Welcome to CEO Meeting Room

Chào các anh chị và các bạn. Như một thông lệ của tự nhiên "có tái hợp và sẽ có chia ly". Chúng ta đã có duyên gặp mặt cũng sẽ phải có lúc chia xa. CEO Meeting Room này được thành lập với mong muốn duy trì sự liên kết giữa các anh chị em chúng ta. Nơi đây sẽ là "không gian" gặp mặt online của các thành viên lớp nói riêng và các anh em bạn bè nói chung. Chúng ta sẽ cùng nhau chia sẽ những kinh nghiệm, những ước mơ, những hoài bão để cùng nhau xậy dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Ngoài sự tham gia nhiệt tình của các anh/chị em trong thành viên lớp, chúng tôi rất sẳn sàng giao lưu với tất cả các bạn trên khắp Thế Giới, để cùng nhau chia sẽ thông tin, kinh nghiệm, kiến thức...với mong muốn làm cho thế giới ngày càng giàu mạnh và xanh tươi hơn. Hoan nghênh chào đón các bạn. Thanks.

Friday, July 13, 2012

Ngân hàng rục rịch đưa lãi vay về 15%


Ít ngày trước hạn chót 15/7, các ngân hàng quốc doanh đồng loạt cam kết giảm lãi suất các khoản vay cũ về 15% như chỉ đạo. Đánh giá cao động thái này, nhưng giới chuyên gia khuyến cáo quản chặt để tránh tái diễn nạn lách trần. 

Sau khi Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) cam kết thực hiện sớm chỉ đạo của thống đốc, ngay ngày 11/7, Ngân hàng Công Thương (Vietinbank) tổ chức họp báo công bố hạ lãi suất đối với tất cả các khoản vay xuống không quá 15% từ 15/7. Chủ tịch Vietinbank Phạm Huy Hùng thậm chí tuyên bố sẵn sàng cho doanh nghiệp vay vốn lưu động với lãi suất 11-12% một năm. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được kiểm soát tốt trong những tháng gần đây là lý do khiến lãnh đạo Vietinbank tự tin thực hiện theo chỉ đạo của Thống đốc. Ông Hùng dự báo, lãi suất cho vay sẽ còn giảm nữa.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng nhiệt tình không kém. Chiều qua, ông lớn này cũng phát đi thông cáo báo chí cho biết đang rà soát toàn bộ dư nợ các khoản vay đang có mức lãi suất cao hơn 15% để điều chỉnh về mức trần mà Thống đốc khuyến cáo từ 15/7. Các khoản vay mới tại BIDV cũng sẽ hưởng lãi suất không quá 15%.
Riêng với các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, khắc phục bão lũ), lãi suất tối đa sẽ là 12%. Các khoản vay ngắn hạn của khách hàng có định hạng tín nhiệm cao thuộc lĩnh vực này, lãi suất cho vay chỉ ở mức 11-12%. Mức thấp nhất mà BIDV chào cho khách hàng trong lĩnh vực xuất khẩu là 9-11%, với điều kiện doanh nghiệp thực hiện dịch vụ trọn gói tại BIDV.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) chưa ra thông cáo chính thức về kế hoạch giảm lãi suất. Song trao đổi với báo chí, lãnh đạo ngân hàng này cho biết ngay sau khi dự hội nghị ngành cuối tuần qua, đã họp và có văn bản chỉ đạo toàn hệ thống thực hiện chủ trương mới từ ngày 15/7. Hiện các khoản vay lãi suất trên 15% đang chiếm khoảng 50% tổng dư nợ của Agribank. Nếu giảm lãi suất theo chỉ đạo, Agribank sẽ giảm doanh thu khoảng 4.500 tỷ đồng sau khi đã giảm khoảng 3.000 tỷ đồng từ những đợt giảm lãi suất trước đó.
Khối ngân hàng cổ phần cũng đang rậm rịch vào cuộc. Trao đổi vớiVnExpress.net, Phó tổng giám đốc Ngân hàng ACB Nguyễn Thanh Toại cho biết sẽ tiến hành điều chỉnh lãi suất từ ngày 15/7 đúng như chỉ đạo. Chủ tịch HĐQT SeaBank Nguyễn Thị Nga cũng khẳng định sẽ chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp. Dù là ngân hàng cổ phần, quy mô không lớn nhưng bà Nga cho biết sẽ theo sự điều hành của Ngân hàng Nhà nước và đưa lãi suất về 15% một năm.
Lãi suất huy động niêm yết cao nhất 9% cho kỳ hạn dưới 12 tháng, nhưng cũng bắt đầu có tình trạng lách trần. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Lãi suất huy động niêm yết cao nhất 9% cho kỳ hạn dưới 12 tháng, nhưng cũng bắt đầu có tình trạng lách trần. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Các chuyên gia đều đánh giá cao quyết tâm của người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cũng như ngành ngân hàng trong việc tháo gỡ khó cho doanh nghiệp. Nhưng cũng còn những băn khoăn về tính khả thi của việc áp trần lãi suất cho vay này. Có ý kiến cho rằng đây không phải lần đầu tiên Ngân hàng Nhà nước "ra tay" để giảm lãi suất các khoản tín dụng cũ. Cuối tháng 4, Ngân hàng Nhà nước đã ra công văn yêu cầu ngân hàng xem xét hạ lãi suất các hợp đồng tín dụng theo thị trường. Nhưng đến nay, gần như các ngân hàng vẫn "làm ngơ" vì văn bản trên không quy định cụ thể từng trường hợp. Do đó, theo nhìn nhận của các chuyên gia ngân hàng, tuyên bố đầy quyết tâm lần này của Thống đốc vẫn còn thiếu những chỉ báo rõ ràng để thành hiện thực.
Chuyên gia Cấn Văn Lực cho rằng cần phải phân loại rõ thế nào là nợ cũ, món vay cũ được xét từ mốc thời gian nào và chủ trương này có áp dụng cho tất cả các ngân hàng với mọi khoản tín dụng ở các lĩnh vực hay không. Tiến sĩ Lực đề xuất, có thể nên bổ sung lộ trình giảm lãi suất cho các ngân hàng quy mô nhỏ để họ theo được quy định này trong bối cảnh họ cũng khó khăn.
Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sỹ Kiêm tin rằng chủ trương này sẽ khả thi nếu Ngân hàng Nhà nước cụ thể hóa bằng các chính sách rõ ràng, kiểm tra chặt chẽ.
"Ngoài thống nhất về tư tưởng thì cần phải có chính sách giám sát rõ ràng. Nếu để ngân hàng tự giác thì rất khó", ông nhìn nhận. Không chỉ vậy, Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng không loại trừ khả năng các nhà băng sẽ "lách" chủ trương áp trần lãi cho vay này giống như đã làm với lãi suất huy động. "Nếu không nghiêm thì các ngân hàng có thể lách luật vì mục tiêu lợi nhuận cao. Lãi suất huy động làm chặt thế họ còn lách được", ông nói.
Chuyên gia kinh tế độc lập Vũ Đình Ánh cũng tin rằng các nhà băng khó né được "chiếu" mà Thống đốc đã ban. "Ngân hàng làm vậy thì doanh nghiệp sẽ phản ứng ngay lập tức vì điều này tác động trực tiếp đến họ", ông Ánh lý giải. Không chỉ vậy, chuyên gia này cho rằng ngoài chế tài cho ngân hàng thậm chí cần có quy định để tránh việc doanh nghiệp lạm dụng ưu đãi để hưởng lợi.
Ngay khi Thống đốc Nguyễn Văn Bình tuyên bố buộc các ngân hàng hạ lãi suất về 15% tại hội nghị sơ kết cuối tuần qua, ở dưới hội trường, cũng có vài lãnh đạo ngân hàng nhìn nhau tỏ ra e ngại vì rút lãi suất đồng nghĩa với lợi nhuận có thể giảm. Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch hôm qua (10/7) vừa cảnh báo, khả năng tạo lợi nhuận của các nhà băng lớn ở Việt Nam có thể giảm so với năm 2011. Một trong những nguyên nhân chủ yếu theo tổ chức này là mặt bằng lãi suất cho vay tại Việt Nam đang giảm mạnh.
Tiến sĩ Cấn Văn Lực nói: "Ngân hàng có thể thiệt thòi về mặt lợi nhuận trong ngắn hạn nhưng về lâu về dài, khi họ hỗ trợ cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn thì họ sẽ có lợi".
Thừa nhận lợi nhuận của các nhà băng sẽ ảnh hưởng nhưng ông Cao Sỹ Kiêm tin rằng việc giảm lãi các khoản vay cũ ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa là sự chia sẻ rất cần thiết từ phía ngân hàng trong thời điểm này. Bản thân Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng nêu thực trạng ngành ngân hàng bị kêu ca lãi suất cho vay vẫn cao, các doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vì có nhiều yêu cầu không cần thiết. Do đó, ông kêu gọi các nhà băng "kiểm điểm xem ngân hàng đã hết lòng với doanh nghiệp hay chưa" để hành động vì "màu cờ sắc áo và uy tín của ngành".
Thanh Thanh Lan

Luẩn quẩn xử lý nợ xấu: Nhìn từ góc độ thói hư tật xấu


Theo cơ quan Thanh tra của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 5/2012, tổng nợ xấu của cả hệ thống ngân hàng chiếm khoảng 8-10% tổng dư nợ nền kinh tế. Đã có hàng trăm hội nghị, diễn đàn, đối thoại... được tổ chức nhằm nỗ lực tìm kiếm giải pháp tháo gỡ khó khăn, xử lý nợ xấu, giải quyết "cục máu đông" đang tồn tại trong cơ thể nền kinh tế vốn còn nhiều vấn đề.
Tuy nhiên, dường như lộ trình và phương pháp xử lý nợ xấu đến nay vẫn còn luẩn quẩn, giải pháp căn cơ vẫn chưa được nhìn thấy. Viễn cảnh nền kinh tế, theo dự báo của các chuyên gia thì đến hết năm 2013 tốc độ tăng trưởng GDP mới phục hồi ở mức 6,2%, lạm phát trung bình năm 2012 có thể giảm còn 9,5%, và năm 2013 sẽ tăng lên mức 11,5%.
Bên cạnh đó, khả năng phục hồi nền kinh tế trong nước còn phụ thuộc khá nhiều vào năng lực của các nền kinh tế lớn, tức là từ yếu tố bên ngoài, đặc biệt là cộng đồng Eurozone và Mỹ.
Vậy, vấn đề của khủng hoảng kinh tế, những nguyên nhân nảy sinh nợ xấu, quá trình tìm kiếm giải pháp cho việc xử lý nợ xấu phải chăng chỉ là vấn đề về tài chính, vấn đề của các biện pháp hành chính, tái cấp vốn, tái cơ cấu nền kinh tế...?
Về dài hạn, với mục tiêu phát triển bền vững thì yếu tố con người và quyết tâm thay đổi những thói hư tật xấu của người Việt cũng cần phải tính đến qua nhiều biện pháp mà theo chúng tôi, giáo dục đào đạo, sự dũng cảm nhìn nhận những khiếm khuyết của yếu tố con người là hết sức cần thiết.
Để có thể chứng minh luận điểm ấy, thử nhìn nhận lại thực tế sự ảnh hưởng gián tiếp và trực tiếp của những thói hư tật xấu đến nhiều hoạt động, trong đó có cả tư duy vận hành nền kinh tế:
1. Ăn xổi ở thì
Trần Chánh Chiếu, trong Lục tỉnh tân văn (1908) có viết: “Nước nào cũng có gian giảo, Tây, Nam, Chệt, Chà đều có kẻ tốt người xấu. Song nước ngoài người ta gian khéo xảo lớn, còn nước mình gian vụn xảo vặt. Nói giác thể như một nguời Chệt kia lãnh của người ta đi buôn, lãnh rồi thì lo làm ra té lời cho nhiều, có gian lận thì lấy trong cái tiền lời ấy, chứ không khi nào đụng tới vốn bao giờ. Họ tính như 100 đồng mà làm lợi ra 0,30 đồng, dầu có gian, chủ có hay cũng giám mà cho gian. Còn người nước Nam không phải vậy, cứ guốc đẽo hoài. Chủ ra vốn cho 10 đồng đã phá tán cho lỗ lã, rồi cứ cái vốn lấy hoài, cứ cái mạch châm hoài. Đụng 0,50 đồng cũng gian, 0,30 đồng cũng gian, làm sao mà không háp tiệm...”.
26 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước khởi sắc - không thể phủ nhận. Tuy nhiên, thói ăn xổi ở thì vẫn còn nhan nhản đó. Từ Vinashin, Vinalines và hàng loạt các tổ chức kinh tế sử dụng vốn nhà nước, đồng tiền xương máu của nhân dân, niềm tin của nhân dân đang đặt trong tay họ - những nhà quản lý thoái hóa, biến chất, gian xảo, vô trách nhiệm, vô cảm với sự kỳ vọng của nhân dân, với tiền đồ phát triển của đất nước, dân tộc... đang góp phần không nhỏ vào sự lũng đoạn nền kinh tế.
2. Chỉ biết cạnh tranh trong những thứ vặt
Dương Bá Trạc, trong Tiếng gọi đàn (1925) viết: “Cạnh tranh là một cái tính phổ thông của nhân loại, những bậc danh nhân kiệt sĩ đua tài chọi sức, chẳng là vì cái danh thực mà cạnh tranh đấy ư? Những bậc phú hào bên các nước Âu Mỹ làm nên cho dân được thịnh nước được giàu, chẳng là vì một cái lợi to mà cạnh tranh đấy ư?”.
Việc các ngân hàng thương mại cạnh tranh lặt vặt trong huy động vốn bằng nhiều phương thức trong những năm qua thực sự là một thảm họa mà bây giờ ai cũng nhìn thấy.
Từ cạnh tranh bằng quà tặng, khuyến mãi, đi sân sau, phong bì, chiết khấu, thỏa thuận ngầm..., thậm chí chấp nhận cả việc bị cách chức, đi tù, đã từ từ đẩy các doanh nghiệp vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Lãi suất huy động do cạnh tranh vô tội vạ buộc họ phải nâng lãi suất cho vay. Doanh nghiệp như những kẻ đã phóng lao nên phải theo lao. Đến lúc cái tầm nhìn của họ không còn nhìn thấy ngọn lao đâu cả thì đã quá muộn.
Lãi suất cho vay cứ tăng dần tăng dần, của cải vật chất từ từ đã được thế chấp hết cho ngân hàng, thành quả lao động không đủ sức để trang trải nợ nần, nguy cơ phá sản đến gần cửa. Nợ xấu và khả năng tiếp cận vốn từ các thể chế tín dụng vì thế mà dần dần mất. Họ thoi thóp, kêu cứu trong khi các ngân hàng thương mại gần như đóng sập cửa lại với nhiều cơ chế tín dụng thắt chặt đến nín thở.
Các doanh nghiệp cũng vì tham gia vào những cuộc cạnh tranh không khoan nhượng để tiếp cận với nguồn vốn, sẵn sàng chấp nhận lãi suất cao bằng nhiều cách khác nhau, bất chấp tín dụng đen hay trắng cũng tiếp tay cho khủng hoảng.
3. Tính ỷ lại
Phan Bội Châu, trong Cao đẳng quốc dân (1928) viết: “Tục ngữ có câu rằng Tháp đổ đã có Ngô xây - Việc gì vợ góa lo ngày lo đêm. Tháp đó là tháp của ta, ta không xây được hay sao? Nghểnh đầu nghểnh cổ trông ngóng, nếu Ngô không sang thì vạn tuế thiến thu chắc không bao giờ có tháp. Tháp đổ mặc tháp, khoanh tay đứng dòm, nghiễm nhiên một đống bù nhìn rồi hẳn. Hỏi vì cơn cớ làm sao? Thì chỉ vì ỷ lại”.
Có lẽ dư âm của nền kinh tế bao cấp tập trung còn trì nặng tư duy. Quan niệm ta chết có nhà nước lo, nền kinh tế đất nước trì trệ, khủng hoảng, suy thoái có nhà nước lo, “Tháp đổ đã có Ngô xây” cứ như hệ thống tài chính trong nền kinh tế sụp đổ ta không cần có trách nhiệm cụ thể nào.
Tính ỷ lại ăn sâu vào tâm thế người Việt. Nếu ở Mỹ, Lehman Brothers sừng sỏ, Washington Mutual bề thế đệ đơn bảo hộ phá sản với tổng giá trị lên đến 1,018 tỷ USD thì ở Việt Nam, ngân hàng không thể phá sản. Khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao đến mức nguy hiểm thì nhà nước phải tính đến việc dự kiến cấp 100.000.000 tỷ để thành lập công ty mua bán nợ.
Việc thành lập công ty mua bán nợ thực sự sẽ mang lại lợi ích cho các ngân hàng, các doanh nghiệp hay nền kinh tế? Chưa ai dám chắc, kể cả các chuyên gia kinh tế tài chính đầu đàn hay các nhà hoạch định chính sách.
Hành động này là sự chiều chuộng theo kiểu không nỡ đem con bỏ chợ, có vẫn hơn không, nhưng chưa đủ và chẳng biết bao nhiêu mới đủ. 100.000.000 tỷ hay thêm vài trăm ngàn tỷ trong tương lai để chiều chuộng thói ỷ lại trầm kha, không ai đoan chắc!
4. Ích kỷ và khôn vặt
Nguyễn Đỗ Mục, trong Đông dương tạp chí  (1914) viết: “Cái tật ích kỷ vốn là một thứ hay lây: Trông thấy những vườn hoa cây cảnh ở sân nhà trường hay ở nơi đền chùa, hoặc cạnh đường đi lối lại, đã không biết giữ gìn để làm một cái cảnh vườn chung thì chớ, nhiều người lại còn đang tay bẻ tàn bẻ hại, để đem về nhà mà chơi thích chí lấy một mình. Cái chứng ích kỷ đã mọc ra, đến lúc lớn lên thành ra một người đi đến đâu phá hủy đến đấy. Cũng vì lẽ đó mà dân An Nam không mấy khi có được cảnh vui chung, ai có muốn chơi cảnh thì lại phải xây một vài cái bể cạn hay là bầy mươi lăm cái chậu con để làm một khu vui riêng mà không chung chạ với ai cả. Dần dần nảy ra một cái tư tưởng đáng cười, đáng khinh, đáng ghét, đáng sợ là hai chữ ích kỷ, mà một câu "ăn cỗ đi trước lội nước đi sau" đủ vẽ hết được ruột gan”.
Nền kinh tế đất nước đang ở trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng. Việc phải tìm giải pháp vực dậy là một yêu cầu cấp bách. Cái sai là không thể tránh khỏi và phải sửa.
Trong ngắn hạn, có lẽ giải pháp thành lập công ty mua bán nợ là cần kíp. Sự chia sẻ quyền lợi lẫn nhau vì tiền đồ chung của một nền kinh tế, sự ổn định và phát triển bền vững của cả một dân tộc trong giai đoạn hiện tại đòi hỏi những tổ chức tín dụng, cộng đồng các doanh nghiệp phải dẹp bỏ thói ích kỷ và khôn vặt của mình.
Điều cần nói và cần phải cảm thông: Không có một vị lãnh đạo nào có thể nhìn thấu hết mọi việc, không thể cầm tay chỉ việc, không thể chăm chút từng li từng tý, không thể truyền bảo cho từng cá nhân, thể chế, tổ chức nào; không thể lúc nào cũng dang tay mà đỡ đần, chiều chuộng mãi những đứa con hư.
Xã hội chỉ thay đổi được khi mỗi một cá nhân dũng cảm thay đổi mình, dẹp bỏ những thói hư tật xấu đang ăn sâu vào con người mình. Nghị quyết IV của TƯ Đảng đang làm điều đó. Vọng thế!
Cũng không phải ngẫu nhiên mà người Mỹ đã đề cử hiệu trưởng trường Đại học Dartmouth Jim Yong Kim, người không xuất thân từ nền tảng tài chính - tín dụng trở thành người đứng đầu Ngân hàng Thế giới (WB).
Thế giới đang nhìn nhận sự phát triển bền vững của nền kinh tế dưới góc độ con người. Các bậc tiền nhân cũng với những trăn trở thâm sâu đã dũng cảm nhìn thấy những thói hư tật xấu. Sự luẩn quẩn trong việc xử lý nợ xấu rõ ràng đang tiềm ẩn những vấn đề liên quan đến con người, đến những thói hư tật xâu thâm căn cố đế của người Việt.

TRƯƠNG ĐĂNG ÁI

Xây dựng thương hiệu: 3 bước đi tới



Xây dựng thương hiệu như thế nào?

Yếu tố quan trọng giúp một thương hiệu thành công trong thời kỳ khó khăn là niềm tin và tình cảm người tiêu dùng (NTD) dành cho nó, hay nói cách khác là yếu tố “cảm xúc”. Nhiều thương hiệu ở Việt Nam không đuổi kịp đối thủ vì thất bại trong việc tạo niềm tin nơi khách hàng hiện tại hay khách hàng tiềm năng.

Không ít chủ DN trong nước chỉ quan tâm đến bài toán kinh doanh, chỉ xây dựng thương hiệu (XDTH) dựa trên lợi thế cạnh tranh về giá so với đối thủ trong cùng ngành. Trong khi đó, tiêu chuẩn sống của NTD được cải thiện khá nhiều và họ đặt kỳ vọng ngày càng cao vào các thương hiệu đang sử dụng.
Chúng ta nghe nhiều hơn những câu đại loại như: “Hãy làm cho tôi hứng thú hơn”, “Hãy làm cho tôi phấn khởi hơn”, “Hãy mang đến cái gì đó mới mẻ hơn đi”... và chưa kể đến một số khách hàng sẽ trì hoãn hoặc mua sắm ít hơn. Trong tình huống như thế, nếu một thương hiệu không có được yếu tố “cảm xúc” thì nó chỉ có thể cạnh tranh trên phương diện “chức năng” của sản phẩm.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý là những chức-năng-không-thể-thiếu trong ngày hôm qua, hôm nay hoàn toàn có thể trở thành cái “không có cũng chẳng sao” đối với NTD. Vậy yếu tố “cảm xúc” tác động tới thương hiệu như thế nào?

Nhiều người Việt Nam hiện nay chọn thương hiệu để thể hiện cá tính của mình. Theo đó, không ít thương hiệu thuộc lĩnh vực ăn uống, may mặc, giải trí hằng ngày được chọn với lý do là đã định hình tính cách của khách hàng trong mắt bạn bè, gia đình và đồng nghiệp.
Trong giai đoạn khó khăn này, những thương hiệu đáng tin cậy càng được NTD đánh giá cao vì họ thực sự muốn tìm đến cái mà họ tin tưởng hoặc cảm thấy quen thuộc. Điều này lý giải tại sao những thương hiệu như thế có thể cho ra đời sản phẩm thành công, trong khi các nhãn hay ngành hàng mới khó tìm được chỗ đứng trong lòng NTD.

“Lấy lòng” người tiêu dùng ra sao?

Để hiểu rõ hơn về tính tương tác giữa thương hiệu và NTD, chúng ta hãy xem xét những thương hiệu thành công có ý nghĩa thế nào đối với cảm xúc của NTD trong nước. Apple - suy nghĩ khác biệt; Honda - yêu sự tự do; Nike - truyền cảm hứng và không ngừng cải thiện; Heineken - làm mới tình bằng hữu, đặc biệt trong kinh doanh; Louis Vuitton - tăng sự tự tin; The Body Shop - giúp bạn cứu cả thế giới; Vinamilk - mang sức khỏe đến gia đình và xã hội; Nokia - kết nối chúng ta với người yêu thương...
Tất cả những yếu tố này gọi là lợi ích “cảm xúc” mà khách hàng thường dựa vào khi quyết định mua hàng trong thời kỳ khó khăn. Yếu tố này có sức mạnh rất lớn vì chúng là độc nhất và hầu như không thể bắt chước.

Tôi muốn chia sẻ ba bước mà tại Công ty Tiếp thị và Xây dựng thương hiệu độc lập Red Brand Builders gọi là “phương pháp XDTH với tác động mạnh”, nhằm giúp tạo và định hình thương hiệu, giúp thương hiệu kết nối cảm xúc với NTD và giúp DN thành công trong giai đoạn thử thách.

Tiếp xúc: Trọng tâm của “phương pháp XDTH với tác động mạnh” là tiếp xúc với khách hàng, hiểu đối thủ và thị trường, dõi theo và ôn lại những thay đổi trên thị trường trong giai đoạn thử thách rất quan trọng.
Tôi khuyên bạn và những nhân viên trụ cột nên bước ra khỏi văn phòng, quan sát, gặp gỡ và lắng nghe khách hàng của mình, đánh giá xem thị trường thay đổi thế nào và cuối cùng là xác định nguyên nhân chính khiến NTD mua hay không mua sản phẩm của bạn.
Nên nhớ, không dễ tạo được sự chú ý nơi NTD trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng. Khách hàng vẫn chi tiêu nhưng hành vi tiêu dùng đã thay đổi đáng kể vì ngân sách eo hẹp và họ sẽ nghiên cứu kỹ hơn độ tin cậy của nhãn hàng cũng như cẩn thận trong từng khoản chi tiêu một.

Hành động: Dựa trên sự thấu hiểu đó, DN “hành động” và xây dựng nền tảng cho một “tính cách thương hiệu” rõ rệt. Hãy tự hỏi mình những câu hỏi khó.
Đánh giá và tự hỏi xem tại sao thương hiệu bạn tồn tại, định nghĩa xem thương hiệu bạn tượng trưng cho điều gì và làm thế nào để tạo cầu nối cảm xúc với khách hàng mục tiêu.
Đặc biệt, trong giai đoạn này, nếu bạn hoặc nhân viên của bạn không rõ 100% thương hiệu mình tượng trưng cho điều gì, hoặc làm thế nào để thương hiệu bạn vượt trội thì đối tượng khách hàng mục tiêu của bạn cũng sẽ không hiểu.
Tính cách thương hiệu cần được định nghĩa rõ ràng, được ban lãnh đạo chấp nhận và được viết lại để tất cả nhân viên và cấp quản lý đều hiểu rõ tường tận trước khi bạn bỏ tiền ra quảng cáo hay giao tiếp với khách hàng mục tiêu.

Thu hút: Sau khi tạo ra “tính cách thương hiệu”, DN cần xác định tính cách ấy sẽ được thể hiện bằng cách nào và theo một cách kiên định nhất, nhằm “thu hút” khách hàng mục tiêu thông qua các kênh tiếp thị mà họ quan tâm như: logo, nhận dạng thương hiệu, màu sắc, hình ảnh, thông điệp, kênh quảng cáo, kênh PR, sự kiện, trang web, mạng xã hội...

Trong giai đoạn khó khăn, càng quan trọng hơn nữa nếu bạn có thể truyền tải cùng thông điệp cho toàn thể nhân viên, nhằm đảm bảo thương hiệu được hiểu rõ ràng về giá trị và lý do khách hàng sử dụng thương hiệu của bạn.
Đặc biệt, tài chính khó khăn càng làm con người có nhu cầu đơn giản mọi thứ, nên DN cũng “tạo xúc cảm” cho khách hàng bằng cách đơn giản hóa hoạt động tiếp thị và thông điệp chuyển tải.
Có thể việc cắt bớt ngân sách tiếp thị trong giai đoạn khủng hoảng dễ khiến DN nghĩ rằng đơn giản là cắt bỏ các hoạt động tiếp thị. Điều này không hoàn toàn đúng.
Theo nghiên cứu, những công ty thông minh và năng nổ duy trì sự tập trung làm cho thương hiệu dễ nhận thấy, tiếp tục đầu tư quảng cáo với tính cách thương hiệu đúng trong giai đoạn khủng hoảng thường sẽ mạnh hơn, chiếm lĩnh thị trường nhanh hơn và tăng trưởng doanh thu cũng tốt hơn.

CHRIS ELKIN - Giám đốc Điều hành Công ty Red Brand Builders

Bắc cầu qua khủng hoảng




Thương hiệu X-Men ngày nay đã quen thuộc với đàn ông Việt Nam, trong khi hơn 10 năm trước, dầu gội đầu dành riêng cho nam giới là khái niệm ít ai nghĩ đến.
Thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, trong khi nhiều doanh nghiệp (DN) đang vượt khó bằng cách thắt chặt chi tiêu, tăng hiệu quả sử dụng tài lực và nhân lực, thì ICP đã đi một nước cờ khác biệt: hoàn thiện hệ thống phân phối.

Từ 2005, ICP đã xây dựng thành công hệ thống phân phối bao phủ rộng khắp, với hơn 120 nhà phân phối và đội ngũ tiếp thị lên tới trên 500 người.
Sử dụng một phần mềm quản lý phân phối nội địa, ICP có thể theo dõi tình hình kinh doanh trên toàn quốc, chi tiết đến từng nhân viên, từng cửa hiệu và từng sản phẩm bán ra thị trường.
Đến cuối năm 2011, với chiến lược hoàn thiện hệ thống phân phối để tiếp tục tăng trưởng trong giai đoạn khủng hoảng, ICP đã chọn phần mềm quản lý phân phối mới SalesUp hoàn thiện hơn phần mềm cũ.
SalesUp giúp ICP trên ba điểm chiến lược: hỗ trợ kích thích tiêu dùng; hỗ trợ hiệu quả cung ứng hàng hóa; hỗ trợ thiết thực chinh phục mục tiêu.

Khuyến mãi để kích thích tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng doanh số, đặc biệt trong bối cảnh người tiêu dùng đang “thắt lưng buộc bụng”. Muốn khách hàng mở rộng hầu bao, khuyến mãi phải đánh đúng vào sở thích của họ.
Mà sở thích của khách hàng luôn là một ẩn số, không có đáp án chung. Thế nên đa dạng hình thức khuyến mãi, cho phép khách hàng được tự do chọn lựa sản phẩm khuyến mãi và linh động điều chuyển ngân sách giữa các chương trình khuyến mãi.

Nhà phân phối có đủ hàng để bán là điều mong muốn của mọi DN. Tuy nhiên, không phải DN nào cũng thực hiện tốt việc này.
Bên cạnh sản xuất và vận chuyển đủ hàng hóa đến các trung tâm phân phối, hỗ trợ nhà phân phối đặt hàng hợp lý là điều cần thiết. Cụ thể, phải đặt hàng như thế nào để không bị tồn nhiều ở những mặt hàng bán chậm cũng như không bị thiếu hụt ở những mặt hàng bán nhanh.
Vì vậy, nhà phân phối phải đặt hàng hợp lý dựa trên tồn kho hiện tại và trung bình bán hằng ngày của từng mặt hàng. Bên cạnh đó, họ còn phải nhận được những cảnh báo cho biết những mặt hàng có tồn kho dưới mức an toàn, đồng thời ghi nhận những tình huống khi đặt hàng mà DN không có đủ hàng để cung ứng.

CÔNG CHÍNH - Tổng giám đốc Công ty GESO

Chiến lược phân khúc thị trường


Doanh nghiệp ngày nay nhận ra rằng họ không thể thu hút toàn bộ người mua hàng trên thị trường, hoặc ít ra là họ không thể cùng một cách mà có thể thu hút được toàn bộ người mua hàng.
Người mua hàng thì quá lớn về số lượng, quá dàn trải về mặt địa lý, nhu cầu và cách mua sản phẩm của họ cũng quá đa dạng. Về phía doanh nghiệp thì khả năng đáp ứng nhu cầu thị trưdờng của họ cũng rất khác nhau do họ khác nhau về năng lực, về chuyên môn.
Chiến lược phân khúc thị trường
Như vậy thay vì dàn trải năng lực để phục vụ cho toàn bộ nhu cầu trên thị trường, từng doanh nghiêp cần xác định cho mình một phần của thị trường mà họ có khả năng phục vụ tốt nhất, có lợi nhất.
Hầu hết các doanh nghiệp ngày nay đã rời bỏ chiến lược thị trường chung, họ bắt đầu đi theo hướng thị trường tuyển chọn. Như thế, sẽ có thể có những phân khúc thị trường họ rút lui hoặc chỉ phục vụ cầm chừng, và có những phân khúc thị trường họ quyết tâm, dốc sức phục vụ.
Như vậy, có thể nói mục tiêu của phân khúc thị trường nhằm để xác định phân khúc thị trường nào doanh nghiệp sẽ cạnh tranh và phân khúc nào doanh nghiệp sẽ không cạnh tranh.

Phân khúc thị trường là:

  • Xếp khách hàng thành nhóm (market segment) dựa theo động cơ thúc đẩy họ (mua hàng, chọn nguồn cung cấp hàng hoá (sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng …)
  • Xếp khách hàng thành nhóm dựa trên nhu cầu (needs & wants) và hành vi (behaviour) của họ.
  • Xếp khách hàng thành từng nhóm dựa theo những yếu tố quyết định mà họ đặt ra để (mua hàng hoá, chọn nguồn cung cấp sản phẩm, dịch vụ …)

Tại sao cần phân khúc thị trường?

Qui trình phân khúc thị trường còn đòi hỏi người làm công tác thị trường phải hiểu động cơ của sự chọn lựa và yếu tố ưa chuộng của khách hàng trên thị trường, thông qua đó phát hiện ra cơ sở của ưu thế cạnh tranh.
Phân khúc thị trường còn giúp cho marketer nhìn thấy cơ hội trên thị trường thông qua công việc phân tích nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Từ đó có thể đưa ra những sản phẩm cùng loại nhưng có công dụng khác nhau, bao bì khác nhau, giá thành khác nhau v.v.. để phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của những đối tượng khách hàng khác nhau.
Quan trọng hơn cả, phân khúc thị trường là cơ sở tiền đề để xây dựng chiến lược thị trường của doanh nghiệp. Nếu marketer làm tốt công việc phân khúc thị trường, qua đó xác định cho mình một phân khúc thị trường thích hợp, sẽ dễ dẫn đến thành công vì chiến lược thị trường của doanh nghiệp dựa trên cơ sở năng lực và lợi thế thực sự của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của thị trường. Ngược lại, nếu marketer chọn sai thị trường, thì chiến lược trên lý thuyết có hay cở nào cũng khó mà có thể thực hiện thành công, bởi vì có thể marketer đã chọn một thị trường quá lớn so với khả năng của mình, hoặc một thị trường mà yêu cầu bức xúc nhất, quyết định nhất của khách hàng thì doanh nghiệp lại không có khả năng đáp ứng tốt hơn so với các đối thủ khác.
Phân khúc thị trường còn là cơ sở để marketer nhận định, đánh giá thị trường, giúp theo dõi diễn biến thị trường, phán đoán những thay đổi trên thị trường trong tương lai nhằm đón đầu nhu cầu thị trường.

Khách hàng, thị trường

Khái niệm khách hàng và thị trường mới nghe tưởng là đơn giản nhưng thật ra việc xác định khách hàng và thị trường không phải ai cũng có thể xác định đúng ngay lần đầu tiên.

Sơ đồ thị trường (market map)

Sơ đồ thị trường là một phát thảo hoạt động thị trường từ A đến Z, từ người cung cấp nguyên liệu thô cho đến người sử dụng sản phẩm cuối cùng, đi qua nhiều kênh khác nhau. Lập và phân tích sơ đồ thị trường là một bước không thể thiếu trong quá trình phân khúc thị trường.

Chuỗi giá trị (value chain)

Từ sơ đồ thị trường mô tả hoạt động của toàn bộ thị trường rộng lớn bao gồm cả hoạt động của đối thủ cạnh tranh, chuỗi giá trị thu nhỏ sơ đồ thị trường lại, mô tả chuỗi hoạt động tạo ra và thu lại giá trị của các thành viên tham gia trong đó có doanh nghiệp. Phân tích chuỗi giá trị giúp marketer nắm được đâu là những thành viên quan trọng trong quá trình tạo ra giá trị, và đồng thời cũng nắm được sự phân bổ giá trị.

Cơ sở để phân khúc thị trường

Có rất nhiều phương thức phân khúc thị trường, dựa trên nhiều cơ sở khác nhau (nhân chủng học, hành vi, nhu cầu, thói quen, thái độ, tiêu chí mua, qui trình mua…). Người làm công tác thị trường cần xác định những tiêu chí phân khúc thị trường phù hợp.

Qui trình phân khúc thị trường

Phân khúc thị trường là một nghiệp vụ phức tạp, mất thời gian, nhưng sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn nếu thực hiện tốt. Qui trình phân khúc thị trường bao gồm 5 bước.

Sử dụng kết quả phân khúc thị trường

Từ kết quả phân khúc thị trường, marketer áp dụng vào việc hoạch định chiến lược marketing cho từng phân khúc, xây dựng gói giải pháp, lập kế hoạch marketing ….

Monday, May 14, 2012

Khơi nguồn sáng tạo trong doanh nghiệp


Sáng kiến là nơi bắt nguồn của sản phẩm mới, là bước đột phá giúp doanh nghiệp chuyển bại thành thắng. Ngay chính trong doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên luôn là nguồn ý tuởng dồi dào nhất, mà không cần phải tốn kém, mất công tìm kiếm, thuê mướn đâu xa.


Vậy làm thế nào để khơi nguồn sáng tạo của đội ngũ nhân viên? Sau đây là một số biện pháp đơn giản nhưng hữu hiệu:

Tạo điều kiện cho nhân viên thử sức

Ba năm truớc, một công ty đang bị đối thủ cạnh tranh khốc liệt mà ý tưởng lại khan hiếm, thế là họ tổ chức một cuộc thi thiết kế nho nhỏ trong công ty. Đối tuợng tham gia gồm tất cả các nhân viên, từ cô công nhân may cho tới cả chủ tịch hội đồng quản trị. Họ ngồi lại với nhau, cùng thiết kế, sáng tạo rồi bầu chọn và trao thưởng cho mẫu đoạt giải vào cuối ngày. Từ đó, mỗi năm, công ty này lại có một ngày để tôn vinh những ý tuởng và khơi nguồn sáng tạo trong tập thể nhân viên.

Đó là câu chuyện của Công ty West Paw Design và giám đốc sản xuất là Seth Partain. Ý tuởng này của ông không những đem về cho công ty những ý tuởng suất sắc, ít tốn kém, thu về nhiều lợi nhuận mà còn góp phần khích lệ tính sáng tạo cũng như tinh thần tập thể: nhân viên cảm thấy mình thực sự là một phần của công ty. Vậy thì tại sao bạn không thử là những Seth Partain thứ hai?

Thêm thời gian riêng tư

CEO của BrightHouse, công ty chuyên tư vấn về các ý tưởng sáng tạo cho Coca-Cola, Delta Airlines… cho biết, ngoài 5 tuần nghỉ phép thì nhân viên của công ty này có thêm 5 ngày “riêng tư” để suy nghĩ, giải quyết công việc. Trong khoảng thời gian đó, nhân viên có thể tới những nơi mà họ cho là thích hợp để tịnh tâm suy nghĩ. Google cũng dành cho các kỹ sư của mình khoảng thời gian tương tự là 20% thời gian làm việc.

Áp lực về thời gian và môi trường xung quanh cũng là một yếu tố ngăn cản sự sáng tạo. Vì vậy, khi nhân viên của bạn cần phải đưa ra những quyết định sáng tạo hay những công việc quan trọng, hãy cho họ thêm thời gian và sự riêng tư để họ thoải mái suy nghĩ, họ sẽ đưa ra những quyết định, ý tưởng đầy sáng tạo.

Tận dụng Internet để khuyến khích sáng tạo

Khi trong công ty có một số nhân viên rất ngại trực tiếp nêu ra ý tưởng của mình, một số khác cho rằng đó không phải là việc của họ nên không lên tiếng, hay khi nhân viên thường xuyên phải di chuyển, công tác xa…, bạn có thể tổ chức các cuộc khảo sát ý tưởng hay các diễn đàn trực tuyến, trong đó cho phép nhân viên có thể xem và bầu chọn cho ý tưởng của đồng nghiệp, và tất nhiên, có trao giải cho các ý tưởng xuất sắc.

Khuyến khích mạo hiểm

Hằng năm, Reiman – CEO công ty BrightHouse lại dành một ngày để tổ chức chương trình “khuyến khích mạo hiểm”. Trong ngày đó, nhân viên được khuyến khích làm những việc trước đây họ chưa bao giờ dám làm, như nhảy dù từ trên máy bay, lặn, viết tiểu thuyết… “Khi bạn muốn làm, thì điều đó hoàn toàn có thể” – ông nói.

Tương tự, công ty Maddock Douglas có tổ chức trao giải Fail Forward hằng năm cho những ý tưởng “dám mạo hiểm” nhằm tôn vinh những nỗ lực, những tham vọng, và cả những thất bại, vì “thất bại là mẹ thành công”.

Chọn nhân tài từ các cuộc thi

Nhận thấy nguy cơ thiếu nhà thiết kế, năm 2007, CEO tập đoàn thời trang La Jolla - Toby Bost nảy ra ý tưởng tổ chức các cuộc thi nhằm tìm kiếm các ý tuởng cùng các tài năng tương lai. Từ đó trở đi, vào tháng 9 hằng năm, cuộc thi thiết kế thời trang thu hút hàng ngàn sinh viên – học sinh tham gia do La Jolla tổ chức diễn ra hết sức sôi động.

Người thắng cuộc do khán giả nhắn tin bình chọn sẽ được nhận học bổng trị giá 4000 USD, được đăng trên tạp chí Teen Vogue (một tạp chí thời trang học sinh) và có cơ hội được làm việc tại La Jolla Group. Đây là một kiểu “đầu tư” hết sức khôn ngoan: nuôi dưỡng nguồn sáng tạo – tài năng tương lai cho doanh nghiệp.

Dành 10% thời gian cho những phát minh

Theo Scott Cook, nhà sáng lập trình quản lý doanh nghiệp Intuit, cách hay nhất để khuyến khích những phát minh là tạo điều kiện để nhân viên của bạn luôn có thời gian để sáng tạo. Theo đó, các kỹ sư, giám đốc sản xuất của công ty có 10% thời gian làm việc của mỗi tuần để suy nghĩ về các ý tuởng mới. Đó là cách họ phát triển sản phẩm và đặc trưng của thương hiệu.

Nhân viên của bạn sẽ trở nên sáng tạo hơn và sẽ có nhiều ý tuởng xuất sắc được đề xuất, một khi bạn thực sự coi trọng sự sáng tạo và dành thời gian cho nó.

Kinh tế Việt Nam sẽ sáng sủa hơn vào cuối năm nay

Sau nhiều năm làm việc và gắn bó với Việt Nam, nguyên Đại sứ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam ngài Michael W. Michalak đã trở lại và tiếp tục đóng góp vào sự phát triển kinh tế Việt Nam với sự hỗ trợ cho các DN vừa và nhỏ tồn tại và phát triển trong thời kỳ khủng hoảng. 

Phỏng vấn của phóng viên với ngài Michael W. Michalak.



Là người có nhiều năm làm việc và gắn bó với Việt Nam cũng như rất hiểu rõ tình hình kinh tế Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về tình hình kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay?

Tôi rất vui vì sau một năm có cơ hội trở lại Việt Nam và nhìn thấy nhiều sự thay đổi. Tôi nghĩ rằng kinh tế đang trải qua một giai đoạn rất khó khăn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng và các cải cách quy chế. Tôi được biết rằng có những cải cách đang được thực hiện, nhưng thành thật mà nói, từ góc nhìn chủ quan, Việt Nam không theo kịp với tốc độ cải cách đang diễn ra ở các nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, tôi nghĩ rằng Việt Nam cẩn phải cẩn trọng, nếu không sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh trong khu vực. Việt Nam vẫn có những cơ hội cạnh tranh tốt nhất trong khu vực, nhưng Việt Nam cần cải thiện trong quan hệ công chúng cộng đồng, đồng thời đưa ra những chính sách xác đáng hơn.

Từ bài học về kinh doanh chứng khoán, bất động sản, lạm phát, theo ông thời kỳ tồi tệ của kinh tế Việt Nam đã qua chưa?

Câu trả lời đơn giản là chưa, nhưng tôi biết câu hỏi của bạn phức tạp hơn thế. Đây có thể không phải là một năm tuyệt vời cho Việt Nam nhưng tin rằng năm nay tình hình sẽ khởi sắc hơn năm trước, thời điểm mà tất cả các nhà kinh tế dường như đều đồng ý rằng đó là một trong những mốc tồi tệ nhất đã được ghi nhận. Lạm phát đã giảm xuống và đã có một vài con số rất đáng khích lệ. Bức tranh thương mại hóa khả quan hơn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về nhập khẩu và chưa có đầy đủ các giải pháp thị trường được đưa ra. Tóm lại, một vài chính sách cần thiết thì đang được triển khai, nhưng tôi khuyến khích chính phủ cố gắng đẩy nhanh tốc độ hơn nữa. Tôi kỳ vọng mọi thứ sẽ sáng sủa hơn vào cuối năm nay và năm 2013 và 2014 sẽ là giai đoạn phục hồi của nền kinh tế.

Trong giai đoạn như hiện nay, chìa khoá nào có thể giúp DN Việt Nam vượt qua cơn bão kinh tế thưa ông?

Trong thời gian của cuộc suy thoái kinh tế, nhìn vào chiến lược và điều chỉnh, ứng dụng chiến lược trong khía cạnh marketing và quản lý nhân lực luôn luôn là đúng đắn và cần thiết. Quản lý tiền mặt là quan trọng, nhưng làm ơn đừng nhầm lẫn giữa quản lý tiền mặt là không chi tiêu bất kỳ khoản gì! Phải, chắc chắn rằng đây không phải thời điểm để cho bạn dùng tiền mua thêm 1 chiếc xe Mercedes hay Bentley. Tuy nhiên, đây sẽ chính là thời điểm thích hợp để bạn tập trung vào các phương pháp tiếp thị trong các lĩnh vực chuyên môn đã được chọn lựa, phân tích là liên quan đến sự sống còn của công ty. Ngoài ra, khi mọi người chỉ băn khoăn và bận rộn để nghĩ về Giáo dục, thì vấn đề về cải thiện nguồn nhân sự, điều mà hay bị phớt lờ trong những giai đoạn bùng nổ, lại thực sự là một khía cạnh không nên bỏ qua.

Các nhà DN Việt Nam cho biết họ đang phải tiếp đón các đối thủ cạnh tranh nước ngoài rất mạnh về tài chính và kinh nghiệm, vậy DN Việt Nam nên ứng xử với khó khăn này như thế nào, thưa ông?

Trước tiên cho tôi hỏi, tại sao bạn nghĩ họ là đối thủ cạnh tranh? Rất nhiều DN, doanh nhân nước ngoài mong muốn được trở thành đối tác với công ty Việt Nam để làm cho DN bền vững hơn, so với việc họ đứng độc lập một mình. Đừng bỏ qua các cơ hội liên mình để học hỏi kinh nghiệm và bù đắp lẫn nhau. DN, doanh nhân Việt Nam sẽ có lợi thế là hiểu biết thị trường vì đó là “sân nhà” của bạn. Cạnh tranh có thể làm cho các DN Việt Nam nâng cao chất lượng, chi phí và dịch vụ. Thực tế là hầu hết DN, doanh nhân Việt Nam đều trẻ nên họ sẽ có nhiệt huyết để tiếp thu, tiếp nhận những phương pháp từ các DN nước ngoài và học hỏi từ những bài học thực tiễn tốt nhất trong khi tránh thực thi kém. Thế nên, đừng nghĩ DN nước ngoài tham gia là một thử thách, hãy nhìn nhận đó là một cơ hội!

Là một chuyên gia kinh tế hàng đầu châu Á, theo ông những chiến lược nào DN Việt Nam có thể ứng dụng để "vượt lên từ khủng hoảng"?

Tôi không chắc rằng đã có bất kì công ty nào thành công trong vượt qua khủng hoảng. Một số công ty đã bị thiệt hại ít hơn so với các công ty khác và đã có thể xuất hiện trong thời điểm khó khăn năm 2008 và 2009 tốt hơn các công ty khác. Các công ty này thường có sự chuẩn bị tốt từ trước giúp họ đứng vững trong những “ngày mưa”. Một vài doanh nghiệp, như Apple hay SAP, đơn giản là đưa ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu, được hoàn thiện thông qua đầu tư thích đáng trong quá trình Nghiên cứu & Phát triển (R&D), ngay cả trong giai đoạn khó khăn nhất. Vẫn có một số khác, ví dụ như một vài công ty BDS, họ thay đổi thị trường mục tiêu sau khi thấy các dự án không còn hấp dẫn với nhu cầu. Cuối cùng, một vài DN nhận ra họ không nên hoạt động đơn lẻ mà nên kết hợp, sáp nhập với những đối tác chiến lược khác để có thể phát triển vốn và hỗ trợ nhau về nguồn lực, giúp nhau cùng vượt qua thời gian khó khăn.

Đánh giá của ông về tình hình kinh tế Việt Nam trong ba năm tới cũng như vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới?

Việt Nam đã đấu tranh kiên cường để chống lại những khó khăn kinh tế và một trong những ưu điểm tốt nhất của Việt Nam là khi họ đối mặt với một vấn đề mà chưa bao giờ gặp phải, thì chính phủ và các tập đoàn không ngần ngại khi kêu gọi sự giúp đỡ từ bên ngoài và học hỏi kinh nghiệm để vượt qua khó khăn của bản thân. Tôi nghĩ rằng đối với những giai đoạn ngắn hạn, Việt Nam sẽ vượt qua những vấn đề lạm phát tương đối tốt. Sự duy trì tính minh bạch trong cách quản trị DN vốn nhà nước sẽ là cốt yếu để nâng cao uy tín của Việt Nam trên thế giới và thu hút được đầu tư vào những công nghệ mà Việt Nam đang cần được phát triển. Việt Nam vẫn là một thành viên quan trọng trong quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương, điều này sẽ là tiềm năng mang lại cơ hội thương mại mới cho các công ty Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam tiếp tục đóng một vai trò mạnh mẽ trong ASEAN, đặc biệt thúc đẩy cho cánh cửa thông thương hàng hóa. Vì vậy, tôi cảm thấy rất lạc quan. Tại sao lại phải lo lắng về sự suy thoái trong khi Việt Nam có rất nhiều doanh nhân năng động. Điều cần thiết là khởi động các chính sách hỗ trợ để thiết lập sân chơi, phát triển hệ thống ngân hàng và hệ thống giáo dục hiệu quả sẽ giúp Việt Nam phát triển thịnh vượng để tiến lên phía trước.


 VCCINews

Quản trị vốn vô hình

Trong nền kinh tế biến động vài năm gần đây, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp luôn quan tâm đến việc sáp nhập và mua lại (M&A). Hiệu ứng sụt giảm liên tiếp của các thị trường chứng khoán toàn cầu cho thấy, với những công ty có tình hình tài chính vững mạnh, khả năng tăng trưởng thông qua việc thâu tóm các công ty khác là một chiến lược khả thi.


Nửa đầu năm 2011, số thương vụ M&A trên toàn cầu so với thời điểm cùng kỳ năm trước tăng đến 22%, và theo số liệu mới nhất, việc thâu tóm “đối thủ” đặc biệt chiếm ưu thế, đạt mức cao nhất trong vòng gần hai năm trở lại đây.

Thất bại do thiếu thời gian

Trong quý đầu của năm 2011, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển toàn cầu của Tập đoàn Hay Group đã phối hợp với Harris Interactive để thực hiện khảo sát trên toàn cầu về những thành tố của nguồn vốn vô hình có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kỳ trước khi sáp nhập và thành công sau cùng của những thương vụ M&A.

Hơn 220 giám đốc điều hành cấp cao có kinh nghiệm với những thương vụ M&A lớn (với doanh thu trung bình hậu sáp nhập hơn 1 tỷ USD hằng năm) trong suốt ba năm qua đã được phỏng vấn trên toàn thế giới cho cuộc khảo sát này.

Người được hỏi đã được lựa chọn từ nhóm các nhà lãnh đạo bao gồm các chức danh CEO, CFO, các chuyên gia phát triển chiến lược kinh doanh và quyết định các thương vụ M&A.

Khảo sát được thực hiện ở nhiều lĩnh vực, bao gồm: dịch vụ tài chính, khoa học đời sống, ngành hàng tiêu dùng nhanh, dầu khí, sản xuất, công nghệ, truyền thông và viễn thông.

Khảo sát này cho thấy, 2/3 các giám đốc điều hành tin rằng tập trung nhiều hơn và sớm hơn vào các nguồn vốn vô hình trong suốt quá trình M&A sẽ giúp tăng khả năng thành công của quá trình sáp nhập.

Tuy nhiên, họ lại không dành đủ thời gian xem xét, đánh giá giá trị và sự phù hợp của các chỉ tiêu cho vốn vô hình trong giai đoạn đầu của một thương vụ. Nguồn vốn ấy bao gồm: nguồn vốn tổ chức, nguồn vốn mối quan hệ, nguồn vốn con người… Hầu hết các thất bại trong giao dịch M&A đều do thiếu chú ý đến yếu tố này.

Còn những người dành nhiều thời gian để đánh giá nguồn vốn vô hình thì lại không thành công trong việc xác định rủi ro gắn liền với nó. Kết quả là họ sẽ không thể làm giảm rủi ro một cách hiệu quả nhất trong thời gian tiền sáp nhập.

Thực chất, giá trị của nguồn vốn vô hình là không cố định, mà biến động trong suốt quá trình thương thảo. Do đó, những người không xác định được rủi ro, hoặc không có kế hoạch kiểm soát những rủi ro đó một cách chủ động sẽ thấy sự tụt giảm tương ứng trong trị giá cổ đông góp vốn.

Về cơ bản, tối đa hóa nguồn vốn vô hình được củng cố bởi hai thành tố chính cho phép quản lý tốt hơn vốn vô hình: lãnh đạo và sự liên kết văn hóa.

Do vậy, tập trung vào hai định hướng này không chỉ cải thiện khả năng thành công của thương vụ, mà còn giúp đơn giản hóa quá trình xác định các mục tiêu tiềm năng và tăng hiệu quả các hoạt động thẩm định.

Liên kết lãnh đạo

Những nghiên cứu trên diện rộng của Hay Group cho thấy, giá trị của nguồn vốn vô hình phụ thuộc rất nhiều vào mức độ liên kết trong sự lãnh đạo của hai công ty liên quan và vào mối liên hệ giữa các nền văn hóa tương ứng. Hai yếu tố này có thể làm nên hoặc phá vỡ bất kỳ một thương vụ M&A nào.

Với bất cứ thương vụ M&A nào, sự tin tưởng chung được chia sẻ bởi những nhà lãnh đạo từ hai công ty sáp nhập sẽ dẫn đến sự đồng tâm nhất trí, mang đến cơ hội tăng giá trị và khả năng phát triển cho cả hai bên.

Do đó, trong thời gian đầu của thời kỳ tiền sáp nhập, các giám đốc điều hành nên dành thời gian đủ để thống nhất những mong muốn của cá nhân và tập thể xung quanh những câu trả lời cho những câu hỏi quan trọng như: Vị trí thương hiệu của công ty? Ai sở hữu các mối quan hệ khách hàng và làm thế nào để quản lý các mối quan hệ khách hàng? Công ty mới sẽ cạnh tranh thị phần trên cơ sở nào? Mô hình quản trị mới là gì?

Những quyết định sẽ được đưa ra tại tổng công ty hay ủy thác xuống cho các bộ phận trong toàn doanh nghiệp? Làm thế nào để thay đổi mô hình hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp? Làm thế nào để cải tiến và kết hợp các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) để tạo ra lợi thế cạnh tranh?

Điều quan trọng không kém là cách ra quyết định trong sự lãnh đạo. 2/3 phản hồi của cuộc khảo sát từ Hay Group cho rằng, việc chậm ra quyết định là rào cản chính của tính hiệu quả trong quá trình hội nhập.

Khi xuất hiện những nhân tố cản trở quá trình ra quyết định, các nhà lãnh đạo cần cho thấy khả năng vượt qua một cách nhanh chóng. 

Để cho đồng nghiệp và các đối tác thấy doanh nghiệp sẽ hoạt động như thế nào, ngay từ đầu các nhà lãnh đạo cần phải rõ ràng về các yếu tố cốt lõi như: Ai là người chịu trách nhiệm cho những quyết định? Làm sao để ra quyết định khi giám đốc điều hành có thể không đồng ý? Phương pháp nào sẽ được sử dụng để phân tích những cản trở trong quá trình ra quyết định?...

Cuối cùng, giai đoạn hậu sáp nhập tạo ra sự không chắc chắn cho khách hàng cũng như nhân viên. Những chia sẻ cởi mở và thành thật từ những nhà lãnh đạo có thế giúp giải quyết vấn đề này.

Khảo sát chỉ ra rằng, các nhà lãnh đạo ở mọi cấp độ nên chuyển tiếp thông tin một cách chính xác và kịp thời. Tuy nhiên, nhiều nhà lãnh đạo có xu hướng tự nhiên là bảo vệ tinh thần của nhân viên, hiệu suất và dịch vụ khách hàng bằng cách trì hoãn thông tin, che đậy tình hình khó khăn của công ty, chẳng hạn như việc dư thừa nhân viên.

Khắc phục vấn đề này, hậu sáp nhập sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn trong mắt nhân viên và vì thế, đội ngũ lãnh đạo cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc ra các quyết định.

DAVID DERAIN – Giám đốc Trung tâm M&A Hay Group

"Năm nay nhiều người mất tiền, nhiều người kiếm tiền"

“2012 sẽ là năm của M&A, là cơ hội để các nhà đầu tư “săn mồi”. Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài hứng thú với những công ty tăng trưởng nhanh, có sức đột phá, có thương hiệu tốt.”

Tiến sỹ Alan Phan - Chủ tịch quỹ đầu tư VIASA khẳng định.

Là một trong những chuyên gia tư vấn kinh tế được đánh giá cao ở nước ngoài cũng như trong nước, doanh nhân việt kiều - Tiến sỹ Alan Phan đã có cuộc chia sẻ với báo chí xung quanh vấn đề mua bán - sáp nhập (M&A) hiện nay tại Việt Nam.

Nghe nói ông vừa có một phát ngôn gây “rúng động” là: “Năm 2012 là năm tuyệt vời để kinh doanh”. Điều này khiến không ít người hoài nghi về việc liệu đây có phải là cách để ông gây sự chú ý. Ông nghĩ sao?

Thực tình, tôi đã nói từ cách đây 2 năm là kinh tế Việt sẽ đi vào bão táp và mọi doanh nghiệp phải chuẩn bị để vượt bão. Tôi cũng nói thêm 2012 là khởi đầu của một chu kỳ mới mà sự thay bậc đổi ngôi về tài sản, về ngành nghề kinh doanh, về nguồn vốn đầu tư… sẽ khiến nhiều người mất tiền và nhiều người kiếm tiền.

Nếu tôi là một doanh nhân chưa “thành đạt” thì đây sẽ là cơ hội mới mẻ và hứng thú cho tôi. Chắc chắn nó sẽ rất tuyệt vời. Và dĩ nhiên sẽ thảm hại cho những đại gia đang giàu nhờ đòn bẩy tài chính, nhờ quan hệ không chính thống, đang kinh doanh trong những ngành nghề như bất động sản, công nghệ xưa cũ…

Với vai trò là chủ tịch một quỹ đầu tư đồng thời là chuyên gia tư vấn về Emerging Markets cho nhiều tập đoàn đa quốc gia, ông nhận định thế nào về những lĩnh vực có thể mang lại cơ hội tuyệt vời ấy cho giới doanh nhân?

Có những ngành nghề mà nhu cầu rất cao, chỉ cần chút sáng tạo về điều hành là có thể xây thương hiệu bền vững. Tôi có thể kể đến y tế, giáo dục, công nghệ thông tin, du lịch, tài chính và các hàng tiêu dùng hay nông hải sản có thương hiệu.

Bản thân quỹ Viasa cũng đang đàm phán với 3 đối tác để đầu tư vào công ty của họ. Chúng tôi sẽ công bố chi tiết khi hoàn tất vụ việc. 

Không giống như suy nghĩ thông thường của nhiều người, ông đã cho rằng chính các công ty tăng trưởng nhanh tại Việt Nam đang trở thành mục tiêu của các quỹ đầu tư hay doanh nghiệp trong và ngoài nước mua lại. Vì sao lại không phải là những doanh nghiệp lớn đang đứng bên bờ phá sản?

Những công ty lớn tại Việt Nam thường là những doanh nghiệp nhà nước hay liên quan đến cổ phần do nhà nước kiểm soát. Phi vụ M&A sẽ mất rất nhiều thời gian và những lobby. Chỉ có những định chế lớn cần thị phần ở Việt Nam trên căn bản lâu dài như ngân hàng, dầu hỏa, viễn thông… mới có đủ kiên nhẫn.

Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài hứng thú hơn với những công ty tăng trưởng nhanh, có sức đột phá, có thương hiệu tốt. Đây là sân chơi của các doanh nghiệp IT, hàng tiêu dùng có thương hiệu, y tế, du lịch…

Nhưng thực tế cho thấy, các thương vụ M&A tại Việt Nam không dễ để thành công, ngay cả khi họ đã nhắm tới là các công ty tăng trưởng nhanh và ngược lại, bên bán cũng đang có nhu cầu…?

Khi đến Việt Nam, những doanh nhân nước ngoài vẫn mang theo với họ những kinh nghiệm, thành kiến đã hội tụ từ bao năm trong môi trường văn hóa của nước họ.

Người Nhật và Hàn Quốc có những tư duy và quyết định làm ăn khác với người Mỹ hay người Pháp. Vì vậy, muốn thành công trong việc bán thương nghiệp, mình phải hiểu rõ nhu cầu và tiêu chí của đối tác. Không nên dựa vào một công thức cứng ngắc cho mọi người.

Ngoài ra phải phân biệt giữa các nhà đầu tư tài chính và nhà đầu tư chiến lược, thời hạn và cách thoái vốn, cơ hội hay bền vững, khả năng giúp quản lý và phương thức xây thương hiệu.

Ông cũng vừa nói là đang hoàn tất một số thương vụ M&A, xem ra thì đây đang là thời điểm là nên tính đến M&A…?

Tôi vẫn nghĩ rằng thời điểm suy thoái là lúc mà các doanh nghiệp lớn mạnh hay các nhà đầu tư nhiều vốn nên năng động trong việc săn mồi. 2012 sẽ là năm của M&A.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ do dự vì chưa ai biết giải pháp thực sự của chính phủ cho nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam sẽ là gì và các rào cản về pháp lý, giá mua, minh bạch của hồ sơ tài chính, bộ máy quản lý… vẫn còn hiện diện.

Vậy trong bối cảnh như hiện nay, ông có lời khuyên gì dành cho các doanh nghiệp đang có ý định muốn mua hoặc bán?

Với người mua, hãy cẩn thận trong quá trình phân tích thẩm định (due diligence) và cảnh giác cao độ với những lời hứa hẹn dù qua hợp đồng.

Với người bán, hãy tìm một nhà tư vấn độc lập để có một định giá chính xác về công ty. Nếu được, phải thành thực làm một SWOT (điểm mạnh, yếu, cơ hội, rủi ro) để biết mình rõ hơn.

Trong thế giới kinh doanh của nền kinh tế thị trường, luôn luôn có cá mập và bầy cá con. Biết vị trí của mình trong chuỗi thức ăn thiên nhiên này. Đừng bao giờ hoang tưởng mình là cá mập hay đồng minh của cá mập. Khôn chết, dại chết, biết mới sống, người xưa dạy thế.

Xin cảm ơn ông!

Thursday, April 12, 2012

Xây dựng mô hình kinh doanh và chiến lược kinh doanh - Chìa khóa thành công trong thời kỳ kinh tế biến động