Welcome to CEO Meeting Room

Chào các anh chị và các bạn. Như một thông lệ của tự nhiên "có tái hợp và sẽ có chia ly". Chúng ta đã có duyên gặp mặt cũng sẽ phải có lúc chia xa. CEO Meeting Room này được thành lập với mong muốn duy trì sự liên kết giữa các anh chị em chúng ta. Nơi đây sẽ là "không gian" gặp mặt online của các thành viên lớp nói riêng và các anh em bạn bè nói chung. Chúng ta sẽ cùng nhau chia sẽ những kinh nghiệm, những ước mơ, những hoài bão để cùng nhau xậy dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Ngoài sự tham gia nhiệt tình của các anh/chị em trong thành viên lớp, chúng tôi rất sẳn sàng giao lưu với tất cả các bạn trên khắp Thế Giới, để cùng nhau chia sẽ thông tin, kinh nghiệm, kiến thức...với mong muốn làm cho thế giới ngày càng giàu mạnh và xanh tươi hơn. Hoan nghênh chào đón các bạn. Thanks.

Sunday, April 10, 2011

Giao luu cac nha quan ly

Chao cac ban lop CEO29,
Sap toi minh co tham du hoi thao giao luu cac nha quan ly.
Rat mong cac ban cung tham gia.
Cac ban co the truy cap vao trang web sau de biet them chi tiet
http://www.businesspro.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1065&catid=69&Itemid=519
chuc cac ban vui khoe.
Regards
Thay Nhat

Thursday, March 24, 2011

4 thói quen để trở thành triệu phú

Các triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày như chúng ta, cũng sống dưới một bầu trời và hít chung một bầu không khí, vậy tại sao họ giàu còn chúng ta thì không?

Các triệu phú lạc quan về nền kinh tế thế nhưng không giống như phần đông chúng ta, họ không tiêu sạch tiền vào thứ vô bổ như trò chơi điện tử hay đồ ăn thức uống vặt vãnh.

Thay vào đó, họ quan tâm đến việc giữ tiền và kiếm thêm tiền.

Một khảo sát được thực hiện với triệu phú Mỹ gần đây cho người ta thấy triệu phú làm gì với tiền của họ trong năm nay.

Ưu tiên quan trọng nhất là họ sẽ trả bớt nợ và tiết kiệm tiền. Một triệu phú trong năm qua trung bình tiết kiệm được 39 nghìn USD và họ có kế hoạch sẽ tiết kiệm nhiều hơn trong năm nay.

Tuy nhiên họ cũng vẫn muốn đặt cược vào đà phục hồi kinh tế. Khoảng 45% cho biết họ sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán. 58% quan tâm đến lĩnh vực công nghệ; 48% quan tâm đến dược và 47% muốn đầu tư vào lĩnh vực y tế.

Sự quan tâm đối với vàng chưa chấm dứt: 41% muốn đầu tư vào vàng và 24% xem xét cơ hội đầu tư vào các kim loại quý khác.

Tuy nhiên các triệu phú chưa hết bi quan; 81% cho rằng họ không tin suy thoái kinh tế đã qua đi và chỉ duy nhất 2% tự coi mình trong nhóm nhà đầu tư táo bạo.

Quy tắc này không chỉ áp dụng với việc chi tiền mà còn trong cuộc sống và cách điều hành công việc kinh doanh.

Quản lý thời gian hiệu quả

Triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày giống chúng ta thế nhưng việc họ sống và điều hành công việc kinh doanh thế nào cũng đáng quan tâm. Họ quản lý thời gian tốt hơn chúng ta. Trong khi phần lớn chúng ta về nhà và ngồi lì trước tivi, người giàu có đọc sách và làm những việc đóng góp cho thành công của họ trong tương lai.

Từ khi còn là một học sinh cấp 2 ở Seattle, Bill Gates thường rời nhà vào buổi đêm và cuối tuần để đến phòng máy tính. Ông làm lập trình từ khi học lớp 8. Ông không dành suốt khoảng thời gian rỗi rãi thời niên thiếu để xem tivi và mơ học môn khoa học máy tính tại trường đại học. Ông dành thời gian làm việc thực tế trên máy tính.

Cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi sau này ông bỏ ngang đại học Harvard để khởi nghiệp với Microsoft, ông đơn giản chỉ luôn đi trước mọi người.

Steve Jobs, sáng lập viên của Apple trong bài phát biểu tại đại học Stanford vào năm 2005, đã cho mọi người biết về lịch hoạt động của ông và khẳng định ông luôn biết làm tất cả những gì cần thiết.

Jobs nói: “Khi tôi 17 tuổi, tôi biết đến câu nói nếu mỗi ngày bạn sống như thể đó là ngày cuối cùng trong cuộc đời, bạn sẽ thành công. Câu nói đó gây ấn tượng mạnh mẽ dến tôi và trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương và tự hỏi: có phải ngày cuối cùng của mình đã đến và mình sẽ làm gì hôm nay? Khi tôi đưa ra quá nhiều câu trả lời không, tôi hiểu tôi cần phải thay đổi điều gì đó.”

“Đừng bao giờ mút ngón tay”

Người giàu cũng hết sức quyết đoán.

Tỷ phú Warren Buffett đã từng khẳng định: “Đừng bao giờ mút ngón tay. Ở thời điểm nào đó, bạn cần phải dừng suy nghĩ tính toán lại và bắt đầu hành động.”

Hãy biết thu thập thông tin cần thiết trước người khác để đưa ra quyết định và nhờ mọi người theo dõi, nhắc nhở việc tuân thủ lịch trình để đảm bảo nó không đi chệch hướng.

Ông luôn đưa ra quyết định nhanh và trung thành với nó.

Theo ông, hành động chờ thời cơ và suy nghĩ linh tinh là “mút ngón tay”. Bất cứ khi nào được mời hợp tác làm ăn, ông đều trả lời: “Tôi không phản đối nếu bạn đưa ra biểu giá cụ thể.”

Hạn chế vay mượn

Người sống bằng tiền vay mượn và thẻ tín dụng sẽ không thể giàu được. Vì vậy, Warren Buffett không bao giờ vay khoản tiền lớn để tiêu dùng hay đầu tư.

Ông rất ghét thế chấp. Ông cho biết đã nhận được không ít lá thư từ nhóm người tưởng họ quản lý được nợ nần nhưng sau đó lại khốn khổ vì nó. Buffett khuyên chỉ nên mượn số tiền mà bạn có thể trả và đầu tư bằng tiền tiết kiệm của chính mình.

Luôn kiên trì

Với sự nhẫn nại và khéo léo, bạn sẽ có thể chiến thắng mọi đối thủ. Warren Buffett mua siêu thị đồ nội thất Nebraska Furniture Mart vào năm 1983 bởi thích phong cách kinh doanh của người chủ Rose Blumkin.

Là một người Mỹ gốc Nga, bà đã biến một cửa hiệu cầm đồ nhỏ thành cửa hàng trang trí đồ nội thất lớn nhất Bắc Mỹ.

Bà luôn bán hàng thấp hơn giá của các cửa hàng khác và mặc cả đến cùng giá mua vào.

Bà được coi như hiện thân của lòng can đảm và cố gắng đến cùng để chiến thắng trong cuộc chiến khốc liệt.

Chiến lược công ty trong thời kỳ lạm phát

Với khả năng lạm phát sẽ tăng trong thời gian tới, ngay từ bây giờ các công ty cần có sự chuẩn bị cần thiết để ứng phó hiệu quả.

LTS: BCG Perspective là một tạp chí về chiến lược kinh doanh thuộc BCG, một trong ba công ty tư vấn quản trị hàng đầu thế giới (cùng với McKinsey và Bain & Company). Ngay từ những ngày đầu thành lập vào năm 1963, BCG Perspective đã liên tục đưa ra những báo cáo, nghiên cứu về chiến lược kinh doanh phù hợp với những biến động thị trường. Diễn đàn kinh tế Việt Nam xin trân trọng giới thiệu một trong những báo cáo gần đây về chiến lược doanh nghiệp trong thời kỳ lạm phát.

Khái quát

Lạm phát đối với các hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng nhiều khi khó nhận thấy nhưng vô cùng nguy hiểm. Lạm phát giảm lợi nhuân thu được trên thực tế trong khi các nhà quản lý cứ ngỡ rằng công ty mình đang phát triển. Lạm phát cũng khiến mức đầu tư giảm và ảnh hưởng đến phân bổ tài nguyên. Giá trị thị trường suy giảm, cổ phần hầu như không sinh lãi trong thời kì lạm phát.

Đồng thời, cũng giống như bất kì mối đe dọa kinh tế nào khác, lạm phát chính là "lửa thử vàng" dành cho các doanh nghiệp. Những công ty muốn vượt qua các ảnh hưởng tiêu cực của lạm pháp có thể lợi dụng giai đoạn này để đánh bại các đối thủ yếu hơn và nâng lợi thế cạnh tranh của mình.

Bài viết này mô tả quá trình chuẩn bị gồm 2 bước. Bước thứ nhất là xác định, đánh giá các tác động của lạm phát đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của công ty, cũng như xem xét khả năng ứng phó hiệu quả đối với các tác động đó. Bước đầu tiên này chính là việc dự đoán ảnh hưởng của lạm phát. Bước thứ 2 là sử dụng kết quả phân tích tác động trên để xây dựng một kế hoạch tổng thể tập trung vào khả năng tác động của lạm phát, và có thể giúp công ty tránh các hậu quả tiêu cực.

Quá trình chuẩn bị hoàn thành càng sớm thì công ty càng có khả năng hạn chế ảnh hưởng của lạm phát đến các hoạt động kinh doanh của mình. Và càng đợi lâu thì việc đối phó hiệu quả với lạm phát càng khó khăn hơn.

Xác định ảnh hưởng lạm phát đến lợi nhuận

Mức độ ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận của công ty lớn hay nhỏ phụ thuộc vào hai yếu tố. Một là khả năng hạn chế sự tăng giá từ phía nhà cung cấp. Hai là khả năng định giá sản phẩm cao hơn mà khách hàng vẫn chấp nhận. Nên nhớ rằng mục tiêu ở đây không phải là bảo vệ công hoàn toàn với lạm phát, và điều này rõ ràng là không thể thực hiện được. Thay vào đó, công ty cần chắc chắn rằng chi phí đầu vào tăng chậm hơn mức tăng của giá bán ra.

Xác định ảnh hưởng của lạm phát liên quan đến việc đánh giá tác động có thể có của lạm phát đối với lãi/lỗ của công ty. Lạm phát tác động đến các loại chi phí khác nhau của công ty ở mức độ nào? Và công ty có thể tăng giá sản phẩm lên bao nhiêu trong thời kì lạm phát? Để trả lời những câu hỏi trên, có 4 yếu tố cần phải xem xét. Đó là: các điều khoản trong hợp đồng của công ty, mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng, mức độ ảnh hưởng của lạm phát đối với nhà cung cấp và khách hàng, và cuối cùng là mức độ cạnh tranh.

Với khả năng lạm phát sẽ tăng trong thời gian tới, ngay từ bây giờ các công ty cần có sự chuẩn bị cần thiết để ứng phó hiệu quả.

Điều khoản hợp đồng

Hầu hết các hoạt động trao đổi kinh tế thường được thực hiện, quản lý thông qua một số dạng hợp đồng (rõ ràng hoặc ngầm hiểu). Chi phí đầu vào thường được quản lý bởi các thỏa thuận ngầm trong bán lẻ, các hợp đồng được chuẩn hóa trên thị trường chứng khoán hay các hợp đồng theo yêu cầu của nhà cung cấp. Giá bán ra thì do các định ước với khách hàng quyết định. Một số hợp đồng có thể không chính thức nhưng vẫn có một số quy định như giấy bảo hành, hay các giao kèo dịch vụ. Để đánh giá tác động có thể có của lạm phát đối với chi phí, giá cả, hay chính là lợi nhuận của công ty, các điều khoản trong hợp đồng cần phải minh bạch, rõ ràng.

Thời hạn hợp đồng là một yếu tố quan trọng, cần xem xét kĩ lưỡng. Ví dụ, về phía người cung cấp, hợp đồng dài hạn chính là một biện pháp bảo vệ trong khi quá nhiều hợp đồng ngắn hạn ở các thị trường giao ngay (trực tiếp) lại làm tăng rủi ro lạm phát. Tương tự, các hợp đồng với giá cố định sẽ giúp tránh các tác động tiêu cực của lạm phát tốt hơn so với hợp đồng với giá có thể điều chỉnh.

Các công ty cũng nên chú ý đến ảnh hưởng tiềm ẩn của các điều khoản có thể thương lượng lại trong hợp đồng. Nhiều hợp đồng dài hạn giá cố định có một số điều khoản quy định mức giá có thể thay đổi khi mức lạm phát vượt quá tỷ lệ nào đó. Ngoài các điều khoản hợp đồng chính thức, các nghiệp vụ bảo hiểm tài chính cũng cần được quan tâm, đánh giá tác động, đặc biệt đối với nguyên liệu thô hầu như được mua bán trên các thị trường dễ biến động. Nghiệp vụ bảo hiểm tài chính có thể giảm hoặc tăng mức độ ảnh hưởng của lạm phát chi phí.

Khi xem xét hợp đồng liên quan đến chi phí đầu vào, các công ty không nên giới hạn phân tích ở chi phí nguyên liệu. Nhiều loại chi phí khác như chi phí nhân công, cũng đóng vai trò quan trọng. Cần phải hiểu rằng tỷ lệ chi phí nhân công tùy thuộc vào các hợp đồng đàm phán tập thể, thời hạn các giao kèo này và mức lương tăng được quy định cụ thể. Đối với các hợp đồng không kết hợp, thời gian trung bình của hợp đồng và mức giá tăng trong thị trường lao động có thể ước tính được.

Dạng hợp đồng cũng có ảnh hưởng lớn đến khả năng của công ty trong việc chuyển phần tăng trong chi phí đầu sang phía khách hàng bằng cách tăng giá sản phẩm, dịch vụ. Hay nói đơn giản, đối với các công ty, các điều khoản hợp đồng càng tạo lợi thế về phía người cung cấp thì càng bất lợi về phía khách hàng. Ví dụ, các giao kèo ngắn hạn với khách hàng thì sẽ giúp ích nhiều cho công ty hơn là các hợp đồng dài hạn, bởi giá cả có thể tăng giảm linh hoạt hơn. Tương tự, các hợp đồng cho phép điều chỉnh giá theo giá cả nguyên liệu thô cũng sẽ giúp hạn chế các tác động tiêu cực của lạm phát.

Mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng

Đương nhiên việc nhận định các điểm yếu trong các hợp đồng hiện có là rất cần thiết, tuy nhiên thay đổi chúng lại là một việc hoàn toàn khác. Việc một công ty có thể áp đặt các điều khoản có lợi mà cả nhà cung cấp và khách hàng chấp nhận hay không phụ thuộc vào sự cân bằng quyền lực trong ngành đó.

Tần số điều chỉnh giá của các nhà cung cấp sẽ khác nhau đối với các ngành kinh doanh khác nhau. Ví dụ, người bán sỉ thực phẩm điều chỉnh giá thường xuyên hơn so với những người cung cấp trong các lĩnh vực khác. Do vậy khách hàng mua thực phẩm thường dễ bị ảnh hưởng bởi lạm phát.

Công ty có tránh được sự tăng giá từ phía nhà cung cấp hay không phụ thuộc vào việc công ty có được vị thế thuận lợi hay bất lợi khi thương lượng. Điều này lại được quyết định bởi tầm quan trọng của công ty đối với nhà cung cấp cũng như năng lực thuyết phục của công ty. Rõ ràng nếu công ty là khách hàng duy nhất của nhà cung cấp hoặc công ty có trong tay nhiều nhà cung cấp tiềm năng khác thì công ty sẽ dễ dàng hạn chế hoặc trì hoãn việc nhà cung cấp tăng giá trong giai đoạn lạm phát.

Vị thế thương lượng của công ty với khách hàng quyết định khả năng áp giá của công ty lên sản phẩm, hay nói cách khác, khả năng chuyển chi phí do lạm phát gây ra sang phía khách hàng và điều này thì phụ thuộc phần lớn vào độ co giãn của cầu theo giá.

Một công ty có thể xác định độ co giãn của cầu theo giá theo 2 cách: ước lượng hoặc phân tích số liệu. Trong một số trường hợp, cần phải phân tích độ co giãn trung bình của giá sản phẩm hoặc giá thị trường theo các đặc điểm cụ thể của khách hàng như độ tuổi, địa vị xã hội, mức độ tham gia của khách hàng trong các chương trình thể hiện lòng trung thành đối với sản phẩm của công ty. Những yếu tố này có thể có ảnh hưởng nhiều đến quyết định của khách hàng khi giá cả biến động.

Ảnh hưởng của lạm phát đến khách hàng và nhà cung cấp

Ngoài việc xem xét những tác động tiềm ẩn của lạm phát đến chi phí đầu vào và giá cả sản phẩm, công ty cũng cần phải nắm rõ những ảnh hưởng của lạm phát đến nhà cung cấp và khách hàng. Công ty càng biết nhiều về cơ cấu chi phí của nhà cung cấp và lạm phát ảnh hưởng tới những cơ cấu này như thế nào thì công ty càng có khả năng dự đoán cách thức mà các nhà cung cấp đối phó với lạm phát để có thể sẵn sàng ứng phó lại.

Tương tự đối với khách hàng, những hiểu biết của công ty về chính khách hàng của mình sẽ quyết định khả năng thành công của kế hoạch tăng giá sản phẩm trong thời kì lạm phát. Rõ ràng, công ty sẽ dễ dàng thương lượng tăng giá với những khách hàng theo đuổi chất lượng, đánh giá cao sự đổi mới và độ tin cậy của sản phẩm hơn đối tượng chú trọng đến giá cả.

Mức độ cạnh tranh

Hầu hết các công ty đều phải cạnh tranh trong những phân khúc thị trường và sản phẩm đa dạng, mà mỗi phân khúc có những tính chất, mức độ cạnh tranh riêng biệt. Mức độ cạnh tranh có ảnh hưởng lớn đến các tác động do quyết định liên quan đến giá cả sản phẩm của công ty gây ra, cho nên mức độ cạnh tranh cũng là một yếu tố cần phải đánh giá. Ví dụ khi thị trường có khá nhiều nhà cung cấp phục vụ cho một số lượng nhỏ khách hàng thì công ty sẽ rất khó tăng giá. Ngược lại, khi thị trường có rất ít nhà cung cấp nhưng lại phục vụ số lượng khách hàng lớn thì công ty có thể điều chỉnh giá dễ dàng hơn. Đương nhiên trong trường hợp này các đối thủ cạnh tranh cũng tăng giá và không có cuộc chiến giá cả nào xảy ra.

Chi phí "bôi trơn" là vấn đề nghiêm trọng

Tại hội thảo công bố chỉ số xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2010 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID) và Dự án Sáng kiến năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) tổ chức vào sáng 16/3 tại Hà Nội, các đại biểu tham dự đều có chung một nhận định là hiện nay, khi đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam, các doanh nghiệp (DN) đều phải tốn những khoản chi phí không chính thức (còn gọi là chi phí “bôi trơn”) nếu muốn các thủ tục được giải quyết nhanh gọn, hay muốn trúng các gói thầu do cơ quan nhà nước mời thầu.

Việt Nam cần phải giữ gìn hình ảnh để thu hút FDI
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Môi trường kinh doanh của VCCI: “Có 21% DN trong nước thừa nhận đã trả chi phí không chính thức trong đăng ký kinh doanh và 40% trả hoa hồng khi muốn có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước. Về phần các DN FDI, có 18% thừa nhận có chi khoản phí “bôi trơn” để xúc tiến các thủ tục”.

Tương tự, TS. Edmund Malesky, Trưởng nhóm nghiên cứu PCI, đại diện USAID, cũng đưa ra những con số đáng kinh ngạc: 20% DN FDI đã phải trả khoản phí này khi đăng ký kinh doanh, 40% DN phải chi hoa hồng khi đấu thầu, mua sắm công, 70% DN FDI phải tốn kém cho khoản bôi trơn để thông quan hàng hóa nhanh hơn. Và ông nhận xét: “Chi phí không chính thức là vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam”.

Thực tế cho thấy, số DN chấp nhận “bôi trơn” đang có xu hướng tăng mạnh trong những năm gần đây. Thực ra, chuyện này không còn xa lạ với nhiều người, nhưng điều đáng nói là có không ít DN xem đây là sự hiển nhiên.

Chi phí “bôi trơn” chủ yếu xoay quanh những mối “quan hệ” đôi bên cùng có lợi, và bản chất của mối quan hệ này được luật sư Trương Trọng Nghĩa, đại biểu Hội đồng nhân dân TP.HCM, chỉ rõ là “một dạng tham nhũng giữa một bên là DN có nhu cầu xin xỏ và đưa lợi ích, còn bên kia là cán bộ, công chức có quyền giải quyết và nhận lợi ích”.

Đây quả là vấn đề không đơn giản, nếu không giải quyết rốt ráo sẽ dẫn đến những hệ lụy cho nền kinh tế Việt Nam, nhất là trong khi chúng ta đang muốn thu hút vốn đầu tư từ các DN nước ngoài.

Trước đây, các DN nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chủ yếu dựa trên giá nhân công rẻ và các ưu đãi về thuế, đất đai. Đồng thời, đa phần các DN này đầu tư vào các lĩnh vực gia công, lắp ráp có hàm lượng công nghệ thấp, cần ít hoặc không cần lao động có tay nghề cao.

Tuy nhiên, xu hướng này cần được thay đổi. Điều này có nghĩa là trong tương lai, các lợi thế về nhân công giá rẻ hay các ưu đãi khác sẽ không còn sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài, mà cái chính là sự minh bạch trong chính sách, lao động có tay nghề cao và môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi.

Điều này đã được bà Virginia Foote, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Hoa Kỳ (Amcham), xác nhận: “Nhiều DN Mỹ muốn vào Việt Nam, vì danh tiếng của Việt Nam đã được củng cố khi trở thành thành viên của WTO. Nhưng sau lần đầu tiên đến Việt Nam, khi quay trở lại lần thứ hai, thứ ba, họ lại quyết định không đầu tư vào Việt Nam nữa”.

Giải thích điều này, bà Virginia Foote cho rằng, các DN làm ăn thành công tại Việt Nam đa phần có quan hệ quen biết với những người có vị trí quan trọng trong các cơ quan nhà nước. Các nhà đầu tư Mỹ không thể hiểu được sự rối rắm của mối quan hệ kinh doanh như thế.

Nhận xét của bà Virginia Foote rất có thể cũng là suy nghĩ chung của các nhà đầu tư nước ngoài đang cân nhắc việc đầu tư tại Việt Nam. Điều này không những đã gây rất nhiều trở ngại cho công tác đầu tư, kinh doanh của các DN, mà còn tạo ra môi trường cạnh tranh không bình đẳng và làm ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư vào Việt Nam.

Theo DNSG

Thursday, February 24, 2011

Triển khai gấp 7 nhóm giải pháp chống lạm phát

(VEF.VN) - Hài hòa giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, thặt chặt chi tiêu, kiểm soát chặt về giá đồng thời quan tâm hỗ trợ người nghèo... là những biện pháp cấp bách Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương để kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô.

Sáng nay (24/2), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc nhằm triển khai Nghị quyết của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Thắt chặt tiền tệ và chi tiêu

Tại hội nghị, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã giới thiệu Nghị quyết, tập trung vào 7 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện các mục tiêu trên.

Giải pháp mà Chính phủ đưa ra gồm: thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước; thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng; điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo; tăng cường bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để các nội dung trên một cách đồng bộ, thông suốt từ trung ương đến địa phương.

Đối với nhóm giải pháp về chính sách tiền tệ và tài khóa, ông Hùng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp hài hòa giữa hai nhóm chính sách này. Theo đó, nhất định phải kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%; tổng phương tiện thanh toán vào khoảng 15-16%. Vốn tín dụng sẽ được ưu tiên phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh; nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghịêp nhỏ và vừa. Giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản và chứng khoán.

Phó Thủ tướng khẳng định, tỷ giá và thị trường ngoại hối phải được điều hành linh hoạt.

"Sự thật là cân đối ngoại tệ ra - vào của ta vẫn có số dư, hoàn toàn có thể bảo đảm thanh khoản, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối. Nhưng tới đây, vấn đề quan trọng là phải củng cố được lòng tin của người dân vào đồng nội tệ", Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Liên quan đến chính sách tài khóa, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan địa phương phấn đấu tăng thu ngân sách 7-8% so với dự toán năm 2011 đã được Quốc hội thông qua; sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm tiền lương và các khoản có tính chất lương; chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đã đề ra từ đầu năm).

Ảnh: Việt Thanh

Song song với kiểm soát chính sách tiền tệ là việc tiết kiệm chi tiêu, trong đó giảm chi tiêu của các đơn vị thụ hưởng ngân sách và các doanh nghiệp nhà nước.

"Sẽ tạm dừng trang bị mới xe ôtô, điều hòa nhiệt độ, thiết bị văn phòng; giảm tối đa chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, không bố trí kinh phí cho những việc chưa thật sự cấp bách... Không bổ sung ngân sách ngoài dự toán trừ các trường hợp hết sức đặc biệt đã được quy định rõ và tiến tới chấm dứt việc tạm ứng vốn ngân sách cho các địa phương", Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho biết.

Đáng lưu ý, Chính phủ sẽ điều hành để giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP (mục tiêu đã được Quốc hội thông qua là dưới 5,3%); giám sát chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn...

Điện, xăng tăng vừa phải để tránh gây sốc

Tại Hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã công bố các Quyết định số 268QĐ-TTG và 269/QĐ-TTg ngày 23-2-2011 của Thủ tướng Chính phủ về giá điện.

Giải thích thêm về các quyết định này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nói: "Theo tính toán đầy đủ tại thời điểm này, nếu muốn cắt lỗ, giá bán điện sẽ phải tăng tới 668 đồng/kWh, tức là tăng thêm 62% so với hiện nay. Tuy nhiên, để không gây "sốc" cho nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, giá điện chỉ tăng chưa tới 1/3 mức đó mà thôi. Để giữ giá như thế, Nhà nước phải chấp nhận lùi chi phí khấu hao, lùi giá bán than cho ngành điện, tạm thời không thu phí bảo vệ môi trường và khoanh lỗ cũ để xử lý dần. Ngành điện cũng phải chấp nhận không có lãi".

"Nếu không tăng giá, năm 2011 ngành điện sẽ lỗ tiếp 29,5 ngàn tỷ đồng sau khi đã bị lỗ tổng cộng 28 ngàn tỷ đồng trong năm 2010. Nền kinh tế sẽ không thể chịu đựng nổi số lỗ lớn như vậy. Ngoài ra, giá điện thấp khiến khó thu hút đầu tư, dẫn đến tình trạng thiếu điện, các ngành nghề tiếp tục sử dụng công nghệ lạc hậu, sử dụng điện lãng phí, không khuyến khích tiết kiệm điện", ông Vũ Văn Ninh cho hay.

Ảnh: chinhphu.vn

Các hộ thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định được hỗ trợ giá điện cho 50 kWh/tháng, mức hỗ trợ là 30.000 đồng/hộ/tháng. Kinh phí hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo lấy từ tiền bán điện.

Khung giá cho điện sinh hoạt tại những khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo chưa nối lưới điện quốc gia gồm giá trần và giá sàn, trong đó giá sàn bằng 1,5 lần giá bán điện bình quân năm, giá trần bằng 2,5 lần giá bán điện bình quân năm.

Tương tự, đối với xăng dầu, Bộ Tài chính đã quyết định cho phép các doanh nghiệp đầu mối được tăng giá xăng 2.900 đồng/lít, lên mức 19.300 đồng/lít kể từ 10 giờ sáng nay (24/2).

Theo Bộ trưởng Ninh, mức tăng kể trên cũng chưa thể cắt lỗ cho các doanh nghiệp, khi mà giá xăng dầu trên thị trường thế giới đang đà tăng mạnh. Riêng trong năm 2010, tổng lỗ do không điều chỉnh giá xăng dầu theo thị trường thế giới đã lên đến khoảng 16,4 ngàn tỷ đồng.

Cần kiểm soát thật chặt về giá

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của cả nước là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì được sản xuất, được an sinh xã hội.

Giải pháp được người đứng đầu Chính phủ lưu ý:

Một là, phải thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; phải kiểm soát được tăng trưởng tín dụng ở mức dưới 20%, đồng thời dành tín dụng ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ và đầu tư cho các lĩnh vực thiết yếu khác trên nguyên tắc điều hành minh bạch, cụ thể. Cùng với việc kiềm chế lạm phát, phải giảm dần lãi suất theo hướng hợp lý, coi lãi suất là một trong những công cụ kiềm chế lạm phát.

Hai là, điều hành tỷ giá ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường, Chính phủ thông qua Ngân hàng Nhà nước sẽ huy động và sử dụng các nguồn lực để kiểm soát bằng được tỷ giá theo quy định, không để thả nổi tỷ giá; không để cho thị trường chợ đen chi phối.

"Chúng ta hoàn toàn có thể làm được việc này và trên thực tế năm 2008 là năm cực kỳ khó khăn song chúng ta đã làm được việc này. Dứt khoát các Tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty nhà nước phải bán tất cả các ngoại tệ có được cho ngân hàng nhà nước, không găm ngoại tệ gây khó khăn cho đất nước; khi có nhu cầu, các ngân hàng phải đảm bảo bán cho doanh nghiệp theo đúng giá quy định", Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lưu ý.

Bên cạnh đó, không ứng vốn ngân sách nhà nước cho các dự án kéo dài, không cấp bách để bổ sung cho các dự án ưu tiên hoàn thành trong năm 2011.

Ba là, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, với mức giá nông sản tăng cao, đây là thời điểm tốt để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Hạn chế tối đa các mặt hàng nhập khẩu trong nước có thể sản xuất được, coi giảm nhập siêu cũng làm một trong những giải pháp giảm căng thẳng tỷ giá.

Khẳng định việc điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu là việc không thể không làm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các Bộ, ngành chức năng thực hiện việc bù hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo theo đúng đối tượng, công khai, minh bạch.

Người đứng đầu Chính phủ cũng đề nghị, các địa phương cần làm tốt công tác kiểm soát giá, không để đầu cơ đẩy giá lên cao nhất là với một số mặt hàng thiết yếu như gạo, lương thực, xăng dầu, sữa... Đi đôi với đó là việc chỉ đạo các cơ quan chức năng của đại phương thực hiện tốt chính công tác quản lý ngoại hối, thị trường vàng.

Cần thay đổi tư duy về chiến lược

Chưa bao giờ hai từ “chiến lược” được các doanh nghiệp Việt Nam nhắc đến nhiều như thời gian gần đây. Nào là “chiến lược phát triển”, “chiến lược kinh doanh”, “chiến lược marketing”, “chiến lược nhân sự”...

Và tất cả những chiến lược này, tựu trung đều phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, trên thực tế, để có thể nhận thức đúng về chiến lược, cần có sự thay đổi về tư duy, mà trước hết là tư duy của người đứng đầu doanh nghiệp.

Chiến lược quyết định mô hình và cơ cấu tổ chức

Sự khác nhau cơ bản trong chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp Việt Nam nằm ở bốn khía cạnh chính: nhận thức về khái niệm chiến lược, cách thức lập chiến lược, cách thức triển khai chiến lược, cách thức kiểm soát và đánh giá chiến lược.

Bất kỳ mô hình hay cơ cấu tổ chức nào ra đời cũng nhằm phục vụ một chiến lược nào đó. Chiến lược là tiền đề, là thứ không thể thiếu đối với mô hình hoạt động và cấu trúc của tổ chức. Chiến lược công ty quyết định mô hình và cơ cấu tổ chức của công ty (thường là công ty đa ngành), chiến lược kinh doanh quyết định mô hình và cơ cấu của một đơn vị kinh doanh (hay công ty kinh doanh đơn ngành).

Các tập đoàn, công ty đa quốc gia không bao giờ thiết kế một mô hình hay cấu trúc ổn định khi chưa lập được chiến lược công ty, chiến lược kinh doanh cụ thể.

Trong khi đó, không ít doanh nghiệp Việt Nam lại tư duy theo hướng ngược lại. Họ mày mò, xây dựng mô hình, cơ cấu tổ chức, và liên tục thay đổi tổ chức, nhân sự trong khi chưa hề định hình một chiến lược rõ ràng nào.

Thậm chí, có doanh nghiệp còn xem chiến lược là sản phẩm của mô hình và cơ cấu tổ chức, chiến lược được sinh ra để phục vụ cho mô hình và cơ cấu hiện hữu.

Từ nhận thức này, doanh nghiệp cứ loay hoay vẽ tới vẽ lui sơ đồ tổ chức, tách - nhập - giải thể, thêm - bớt phòng ban, thay đổi nhân sự... Và, sự bất ổn tổ chức kéo theo hàng loạt bất ổn khác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Cần phân biệt hai khái niệm chiến lược (strategy) và chiến thuật (tactic). Cùng là sự lựa chọn cách thức, con đường (way) kinh doanh, nhưng chiến lược hướng đến những mục tiêu dài hạn (long - term objective) trong năm, mười năm; trong khi chiến thuật chỉ là những giải pháp ngắn hạn (short - term objective) thực hiện trong vài tháng đến một năm.

Chiến lược thường mang tính chủ động (proactive) - vạch ra một con đường đi chính, xuyên suốt; trong khi chiến thuật thường mang tính đối phó (reactive), ứng biến với những tình huống trên đường đi trong khi vẫn giữ nguyên hướng đi và luôn bám vào trục đường đã định.

Chiến lược thường đòi hỏi việc sử dụng nguồn lực lớn và dài hơi, trong khi chiến thuật chỉ cần sử dụng nguồn lực nhỏ trong một giai đoạn ngắn. Chiến lược, nếu thành công, sẽ mang lại kết quả lớn, còn nếu thất bại thì hậu quả cũng khôn lường; trong khi đó, chiến thuật thường mang lại kết quả nhỏ, hậu quả nhỏ...

Từ nhận thức về khái niệm dẫn đến nhận thức về vai trò. Các công ty nước ngoài xem chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt, là mối quan tâm hàng đầu, định hướng cho mọi hoạt động kinh doanh.

Tương tự khi người đang đứng giữa rừng, cần phải xác định hướng đi cho đúng trước khi bắt đầu đi, nếu không, sẽ không thể thoát ra khỏi rừng, thậm chí còn có thể bị lạc sâu hơn.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam không mấy coi trọng chiến lược, thường tiện đâu làm đấy, thấy có lời thì kinh doanh, thấy sản phẩm nào bán được thì sản xuất...

Điều này cũng giống như người bị lạc mà không quan tâm đến việc xác định hướng đi, cứ thấy chỗ nào có đường là đi, vì vậy có khi đi loanh quanh mãi lại quay về chỗ cũ hoặc ngày càng đi lạc sâu hơn.

Từ mức độ coi trọng khác nhau dẫn đến cách thức làm chiến lược giữa công ty nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam cũng khác nhau. Công ty nước ngoài xem chiến lược là sản phẩm của cả đội ngũ quản trị viên cấp cao, vì vậy họ thường huy động trí tuệ tập thể và dành nhiều thời gian, công sức cho việc hoạch định chiến lược.

Một dự án hoạch định chiến lược có thể kéo dài trong vài tuần, thậm chí vài tháng, với sự tham gia của nhiều người, từ những nhân viên cấp thấp đi thu thập và cung cấp thông tin, đến các quản lý cấp trung phân tích dữ liệu, và quản trị viên cấp cao thảo luận, tranh biện các kết quả phân tích để lựa chọn chiến lược.

Những cuộc họp bàn về chiến lược có thể được tổ chức ở nước ngoài hoặc ở một khách sạn, resort nào đó, nơi tách biệt với công việc thường ngày. Và lẽ đương nhiên, không thể bỏ qua việc sử dụng những công cụ phân tích chiến lược chuyên nghiệp, bài bản. Trong khi đó, chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam thường do một mình người chủ doanh nghiệp nghĩ ra.

Không huy động trí tuệ tập thể, không thu thập đầy đủ thông tin, không sử dụng các công cụ phân tích, người chủ doanh nghiệp ra các quyết định chiến lược chỉ dựa vào cảm nhận của riêng mình.

Đó là lý do doanh nghiệp Việt Nam thường thành công và phát triển rất nhanh lúc còn ở quy mô nhỏ, nhưng giậm chân tại chỗ hoặc thụt lùi khi mở rộng quy mô hoạt động.

Ở quy mô nhỏ, hoạt động kinh doanh đơn giản, lượng thông tin ít, mức độ cạnh tranh chưa cao, người chủ doanh nghiệp, với tố chất và kinh nghiệm, có thể bất chợt đưa ra những quyết định đúng đắn.

Nhưng khi quy mô doanh nghiệp ở tầm cỡ lớn hơn, lượng thông tin nhiều, môi trường kinh doanh phức tạp, thiếu các công cụ phân tích, thiếu sự bàn bạc thấu đáo... thì một người khó có thể tính toán hết mọi tình huống để đưa ra quyết định đúng.

Những quyết định chiến lược được đưa ra vội vàng, thiếu phân tích, thiếu sự thảo luận, đóng góp của đội ngũ quản trị viên cấp cao, nếu không mắc sai lầm thì cũng rất khó triển khai thực hiện.

Hướng đi quan trọng hơn tốc độ

Các công ty nước ngoài triển khai chiến lược bằng những kế hoạch tổng thể và chương trình hành động cụ thể.

Các kế hoạch, chương trình này, một mặt xác định các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, mặt khác còn thể hiện đầy đủ những hạng mục công việc phải làm, tiêu chí đánh giá, người chịu trách nhiệm chính, người hỗ trợ, ngân sách, các nguồn lực cần thiết khác, và các mốc thời gian bắt đầu, kết thúc.

Các kế hoạch và chương trình này được thảo luận, bàn bạc kỹ trước khi thống nhất để đưa vào thực hiện. Nhờ đó, việc chuẩn bị về nhân lực và vật lực được tính toán kỹ, việc phối hợp triển khai được nhịp nhàng.

Trong khi đó, chiến lược của doanh nghiệp Việt nhiều khi được triển khai chỉ bằng một mệnh lệnh từ chủ doanh nghiệp; các phòng ban, công đoạn không nắm được công việc và tiến độ thực hiện của nhau nên mạnh ai nấy làm, thậm chí những người triển khai công việc không biết ai là người chịu trách nhiệm chính...

Với cách này, chiến lược sẽ khó trở thành hiện thực. Từ các mục tiêu được thiết lập cụ thể cho từng giai đoạn, cộng với các kế hoạch, chương trình hành động chi tiết, các công ty nước ngoài có thể theo dõi, đánh giá và kiểm soát việc thực hiện chiến lược dễ dàng.

Những buổi họp định kỳ để đánh giá kết quả thực hiện cũng như giải quyết các vướng mắc, khó khăn thường xuyên được tổ chức. Tại các cuộc họp đó, các thành viên tham gia sẽ đưa ra thảo luận, tranh biện, đánh giá tiến độ, chất lượng hoàn thành các hạng mục công việc và cùng quyết định các giải pháp tháo gỡ khó khăn, nếu có.

Nhờ vậy, việc thực hiện chiến lược được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo đi đúng định hướng và kế hoạch vạch ra từ đầu.

Nhận thức về chiến lược và tầm quan trọng của nó chưa đúng là thực trạng khá phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Sự thành công và phát triển quá nhanh của một số doanh nghiệp cũng làm cho người chủ doanh nghiệp trở nên chủ quan.

Tuy vậy, khi bước vào cuộc chơi lớn hơn, có nhiều đối thủ hơn, cách thức tư duy đơn giản sẽ khó phát huy tác dụng, nếu không muốn nói là sẽ rất nguy hiểm.

Một nước cờ sai có thể dẫn đến thua cả ván cờ. Một chiến lược sai có thể đưa một doanh nghiệp đang mạnh rơi vào hoàn cảnh khó khăn, thậm chí đứng trên bờ vực phá sản. Ai cũng hiểu, đi đúng hướng quan trọng hơn là đi nhanh.

Tiếc thay, vẫn chưa nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thỏa đáng đến vấn đề chiến lược phát triển công ty, nên mục tiêu phát triển bền vững vẫn là cái đích ở xa...


TS NGUYỄN HỮU LONG

Chiêu mộ nhân tài từ công ty đối thủ

Nhìn vào tập thể nhân viên của công ty đối thủ và thấy một viên ngọc sáng, bạn muốn nó thuộc về mình? Sau đây là cách chiêu mộ nhân tài về làm cho doanh nghiệp mình.

Mời các bạn theo dõi bài "Chiêu mộ nhân tài từ công ty đối thủ" do Kim Quy trình bày.

Không giống với sinh viên mới ra trường hay người tìm việc bất kỳ, nhân viên của công ty đối thủ sẽ hiểu biết về ngành kinh doanh, hoạt động doanh nghiệp, khách hàng, và có thể đem về kho kiến thức mới vô cùng giá trị. Vậy nên, doanh nhân thường sáng mắt khi cầm đơn xin việc của người từng làm cho công ty đối thủ. Tuy nhiên, dù muốn có thêm nhân tài, chẳng ai mong tạo ra cuộc chiến giành người đẫm máu. Vậy nên, “câu” người từ công ty đối thủ đỏi hỏi sự cẩn trọng và khéo léo ở mức độ cao, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ.

Sau đây là vài lưu ý:

Tiếp cận tế nhị

“Câu” người từ công ty đối thủ đỏi hỏi sự cẩn trọng và khéo léo ở mức độ cao, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ.
Nếu có đủ tiền thì để tránh phiền phức, bạn hãy nhờ một bên thứ ba tiếp cận ứng cử viên có triển vọng của đối thủ và đề nghị “một cơ hội trải nghiệm mới”.

Nếu không có chi phí, thì bạn phải tự tay thực hiện một cách khéo léo. Đầu tiên, dùng các công cụ tuyển dụng và mạng lưới việc làm rộng khắp để phát tin tuyển người. Rồi khi đến dự những buổi họp thương mại hay diễn đàn chuyên ngành, bạn đích thân tiếp cận ứng cử viên tiềm năng để đưa ra đề nghị. Hãy lưu ý là nếu bạn quá hung hăng lôi kéo thì đối phương có thể hoảng sợ, bỏ chạy.

Theo chuyên gia, nếu doanh nghiệp của bạn không có bất cứ quan hệ gì với doanh nghiệp đang sở hữu người tài kia, thì bạn có thể mạnh dạn đề nghị. Nhưng nếu cả hai cùng làm trong một ngành nhỏ, thuộc thị trường nhỏ chỉ có vài doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh lẫn nhau, thì bạn phải cân nhắc kỹ hệ quả khi cố tình “lôi kéo” người. Phải biết khéo léo để thêm người tài chứ không tăng kẻ thù.

Nhìn trước khi nhảy

Điều quan trọng nhất cần cân nhắc là liệu ứng cử viên mục tiêu đó xứng đáng để bạn có được bằng bất cứ giá nào? Phải bảo đảm rằng mình đang tuyển một người tài đích thực chứ không phải một cái đơn xin việc dày thành tích… Sai lầm của hầu hết công ty nhỏ là cứ nhìn vào bảng liệt kê những công ty người đó từng làm, nghe những thành tích người đó tự kể, rồi tin rằng: “Thật tuyệt! Phải có được người này!”.

Để bảo đảm đúng là người mình cần, bạn phải xem kỹ quá trình học tập, làm việc bấy lâu; gọi điện hoặc gửi e-mail hỏi ý kiến từ “sếp” cũ, thầy cũ, đồng nghiệp cũ của ứng cử viên… Ngoài ra, còn phải xem người này có phù hợp với văn hóa công ty mình. Khác biệt văn hóa doanh nghiệp thường xuất hiện cùng lúc với sự khác biệt quy mô và vị trí địa lý của công ty. Nếu người bạn muốn thuê hiện đang sống ở vùng miền xa và vốn không có mối dây liên hệ nào với công ty của bạn, thì họ rất khó thích nghi.

Đó là lý do mà các doanh nghiệp đừng chỉ nhìn vào bảng thành tích của ứng cử viên, mà hãy chú ý nhiều đến những người địa phương giàu nhiệt huyết. Họ sẽ dễ dàng hòa nhập môi trường làm việc và văn hóa doanh nghiệp. Với nhiệt huyết, cộng thêm chút thời gian, họ sẽ nhanh chóng bắt nhịp để cống hiến có hiệu quả.

Dè chừng rắc rối pháp luật

Nếu đã xác định đúng đối tượng mình cần và muốn chính thức đề nghị tuyển dụng, điều tiếp theo bạn cần quan tâm là tình trạng hợp đồng của đối tượng với công ty anh ta đang làm việc. Và để tránh phiền phức pháp luật về sau này, bạn hãy thuê luật sư chuyên về thuê mướn nhân sự tư vấn.

Lời đề nghị hấp dẫn

Ứng cử viên đó thật hoàn hảo rồi, làm thế nào người đó chịu rời công ty cũ để qua công ty mình? Bạn cần vẽ ra một cơ hội lớn đầy sức hút. Hãy nhớ rằng không chỉ là vấn đề tiền bạc. Hầu hết mọi người hứng thú và bị kích thích bởi những thứ họ không thể có ở công ty cũ và công việc cũ, như là sự được thừa nhận, cơ hội, sự cách tân, sự sôi động, quyền lãnh đạo và tự do sáng tạo…

Quay đầu nhìn lại

Cuối cùng, hãy biết rằng đối thủ cũng có thể làm điều tương tự với mình. Trong lúc không ngừng tìm kiếm thêm người tài mới cho công ty, đừng quên chăm sóc những nhân viên “trong nhà” đang ngày đêm nỗ lực vì chúng ta. Hãy bảo đảm các ngôi sao trong công ty luôn được quan tâm, chăm sóc và trả lương xứng đáng.


Nguồn INC - dịch PHÙ DUNG

8 bước xây dựng tầm nhìn doanh nghiệp

Tại Ann Arbor, Michigan, Hoa Kỳ, Zingerman’s Delicatessan từ một công ty nhỏ thành lập năm 1982 đã trở thành Zingerman’s Community of Businesses với 8 cơ sở kinh doanh khác nhau (trong đó có một công ty tư vấn doanh nghiệp), 17 đối tác quản lý, 500 nhân viên, đạt doanh thu 37 triệu USD một năm trong 30 năm.

Mời các bạn theo dõi bài "8 bước xây dựng tầm nhìn doanh nghiệp" do Bảo Chiêu trình bày.

Nhà sáng lập Ari Weinzweig giải thích cách thức xây dựng tầm nhìn giúp đưa công ty đến tầm cỡ hiện tại.
Nhà sáng lập Ari Weinzweig giải thích cách thức xây dựng tầm nhìn (xây dựng kế hoạch chiến lược theo những mốc thời gian xác định trong tương lai) giúp đưa công ty đến tầm cỡ hiện tại.

Bước 1: Chọn chủ đề

Bạn xây dựng tầm nhìn cho toàn bộ công ty? Cho một bộ phận? Cho một ngày? Hay là cho đến khi bạn nghỉ hưu? Chúng tôi vẽ ra bức tranh kế hoạch đủ mọi chủ đề trên và còn hơn thế nữa.

Bước 2: Chọn khung thời gian

Tầm nhìn công ty sẽ kéo xa đến tận đâu? Không có câu trả lời chính xác. Nhưng theo nguyên tắc chung thì vượt ra ngoài khuôn khổ những vấn đề hiện tại, nhưng cũng không quá đà tới tương lai bất định.

Chúng tôi có bảng kế hoạch tầm nhìn cho toàn bộ tổ chức đến năm 2020. Hầu hết công ty chọn khoảng thời gian từ 2 đến 10 năm, và 5 năm là con số cơ bản điển hình.

Bước 3: Lập bảng thành tích

Lập danh sách các thành tựu trong quá khứ, những cống hiến đặc biệt của cá nhân, của đồng sự, các kỹ năng, kỹ thuật và nguồn lực.

Danh sách đó là cơ sở dữ liệu kinh nghiệm chất lượng cao, và còn là nguồn năng lượng dồi dào, kích thích sức mạnh tinh thần. Doanh nhân càng lạc quan thì khả năng hoạch định tầm nhìn càng tốt.

Bước 4: Viết bản nháp

Viết bản kế hoạch chiến lược và tầm nhìn là điều vô cùng quan trọng. Sau đây là vài bí quyết cơ bản: Viết cứ như thể kế hoạch này đã thành hiện thực. Viết ra mọi ý tưởng. Đừng ngại nó viễn vông, chỉ cần nó mới mẻ. Viết liên tục không nghỉ trong 15, 20 phút. Thể hiện đam mê trong từng câu, chữ, ý tưởng.

Bước 5: Xem lại bản nháp

Xem lại một lượt bản nháp từ đầu đến cuối. Đừng vội bôi xóa bất cứ chi tiết nào. Hãy tự trả lời những câu hỏi: “Bản kế hoạch tầm nhìn này có truyền cảm hứng cho người đọc?”, “Mình có phấn khởi khi đọc nó?”.

Đừng bao giờ lo ngại: “Sẽ bận rộn dài dài và lo toan mãi mãi đây”. Thay vào đó, hãy xác định số doanh thu đại diện cho sự thành công mà bạn nhắm đến. Mức độ bán hàng? Tăng lương nhân viên? Dự trữ? Điều kiện?...

Bước 6A, 6B, 6C: Chỉnh sửa bản nháp

Chỉnh sửa trên 4 lần thật kỹ để làm thành bản tầm nhìn và kế hoạch chiến lược hoàn hảo. Mất bao lâu không phải là vấn đề quan trọng, nhưng kế hoạch phải thoát ra khỏi tờ giấy để đi vào hiện thực mới có giá trị.

Bước 7: Xin giúp đỡ

Bây giờ là lúc tìm đến những người đáng tin và đáng kính. Bạn sẽ giới thiệu bản kế hoạch chiến lược và tầm nhìn này cho ai? Những người có kinh nghiệm, hiểu biết và chuyên ngành có liên quan. Họ sẽ lắng nghe rồi thảo luận những bước hành động thực tế cho công ty bạn sau này.

Bước 8: Chia sẻ tầm nhìn

Bước cuối cùng là chia sẻ tầm nhìn với tập thể những người sẽ thực hiện nó. Sẽ không tránh khỏi chuyện mọi người truy hỏi làm thế nào để thực hiện tầm nhìn đó. Đừng bận tâm, tầm nhìn là “cái gì” chứ không phải là “cách nào”. Hiện tại bạn chưa rõ mình làm cách nào, nhưng bạn đã biết tầm nhìn của mình là “cái gì”, và tương lai dần dần bạn sẽ tự khắc biết “cách nào”.


Nguồn INC - dịch HẢI ĐƯỜNG

Sunday, February 20, 2011

Biến động lãi suất, tỷ giá trong mắt doanh nghiệp Việt

Lãi suất tăng cao, tỷ giá vừa có điều chỉnh mạnh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ chịu tác động như thế nào?

Cần ổn định để còn biết đường tính toán

Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam

“Hệ thống ngân hàng sẽ khó huy động ngoại tệ nếu vẫn giữ quy định về tỷ giá như cũ. Rất may là có sự chỉ đạo kịp thời của Ngân hàng Nhà nước và sự thống nhất với Hiệp hội Ngân hàng nên đã có sự đồng thuận về giá huy động vốn đầu vào. Vào cuộc ngay nên có tác động rất tốt.

Vì sao nói câu chuyện ngân hàng vì ngân hàng cung cấp vốn cho nền kinh tế, doanh nghiệp giao dịch cũng qua hệ thống ngân hàng nếu trong trường hợp huy động vốn đầu vào 14%, rõ ràng nếu cộng thêm chi phí vài phần trăm của ngân hàng vào nữa thì vốn doanh nghiệp vay so với các nước ở mức độ cao, tác động nhất định đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các ngân hàng thẩm định cho vay cũng chặt chẽ hơn.

Việc điều chỉnh tỷ giá vừa rồi là đúng, vì thực chất tỷ giá chênh lệch giữ ngân hàng với thị trường tự do đã chênh khá lớn. Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng rất lo ngại, bày tỏ lo ngại vì việc dùng USD như một chỉ số, nhập siêu chủ yếu từ Trung Quốc, tới hơn 10 tỷ USD trong khi đồng Nhân dân tệ giá trị như vậy nên có ý kiến lo rằng bị tăng giá kép, vì nhập nguyên liệu từ Trung Quốc về đắt hơn bình thường (vì đồng Nhân dân tệ của họ tăng giá hơn đồng USD trong khi VND lại sụt giảm so với USD) thì rõ ràng giá thành sản phẩm doanh nghiệp mình làm ra đắt, tác động đến sức mua.

Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất nhập khẩu rất lo ngại. Năm nay chỉ tiêu xuất khẩu phải tăng hơn 10%, Quốc hội đã đặt chỉ tiêu rồi. Để thực sự hàng hóa Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thì việc điều chỉnh tỷ giá, lãi suất phải hết sức thận trọng, đặc biệt là trong bối cảnh nhập siêu vẫn cao nên phải có bài toán thế nào đó để trợ giúp cho doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam để tăng sức cạnh tranh hàng hóa chúng ta lên. Đặc biệt là chúng ta nâng cao giá trị gia tăng hàng hóa của chúng ta thì việc có chính sách linh hoạt, hợp lý trong điều hành tỷ giá lãi suất rất quan trọng và cần thiết.

Về mức tăng 9,3% của tỷ giá, không gây sốc đâu. Vì nghe tỷ lệ phần trăm con số có vẻ to nhưng thực tế từ lâu trên thị trường đã điều chỉnh rồi. Quan trọng là sau khi chính sách đó được công bố, trên thị trường USD không vọt lên quá cao mà điều đó chứng tỏ chỉ có sự điều chỉnh nhất định, minh bạch được hoạt động ngân hàng, để ngân hàng thu hút được USD tiền gửi. Chính vì như thế cũng hy vọng nguồn USD người dân bán cho ngân hàng tốt hơn, giúp Nhà nước tăng cường dự trữ ngoại hối.

Tuy nhiên, cần có giải pháp đồng bộ để thực sự vốn vay lãi vay của doanh nghiệp giảm đi. Vì với khối doanh nghiệp sản xuất rất cần vốn vay hợp lý, còn tạo công việc cho người lao động. Bên cạnh khối dịch vụ, ngân hàng, tài chính cũng cần được tăng cường. Bên cạnh giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô thì Chính phủ và các bộ ngành cũng cần tập trung giải pháp cho vấn đề này. Nhưng vốn nền kinh tế nước ta yếu sẵn, lại có tác động như thế nữa. Kinh tế nước ta có độ mở lớn trong khi xuất khẩu chiếm 160% so với GDP, nên đó là bài toán không đơn giản, phải tháo gỡ từng bước.

Với doanh nghiệp, ai cũng phải vay vốn, ai cũng mong muốn lãi suất thấp, nhưng với múc vay trung bình tối thiểu 17% thì rất khó cho doanh nghiệp, và khi trả lãi ngân hàng, doanh nghiệp không có lãi, lãi phải đạt tối thiểu 20% mới có chút lãi. Nếu lãi cao doanh nghiệp không hoạt động được, ảnh hưởng tới cả nền kinh tế, ảnh hưởng đến công ăn việc làm cho người lao động.

Nhưng để giảm mặt bằng lãi suất xuống là cả bài toán tổng hợp. Cho nên cần có một gói giải pháp nhưng điều hành một cách cực kỳ linh hoạt vì diễn biến thay đổi hàng ngày, hàng tuần. Bên cạnh đó còn chịu tác động chi phí đẩy từ than, điện… Họ là nhà kinh doanh đầu tư thì cũng cần có lãi để tái đầu tư, nhưng nếu chúng ta làm một cách dồn dập thì khối sản xuất kinh doanh, dịch vụ cực kỳ khó khăn vì chi phí giá thành sẽ tăng cao, ảnh hưởng đến sức mua.

Về điều hành chính sách tiền tệ, các doanh nghiệp mong muốn có định hướng nhất định để tiên đoán được sự ổn định chính sách, để còn biết đường tính toán. Công tác dự báo và tạo dư luận, có định hướng chung cho các doanh nghiệp về hoạt động tài chính tiền tệ rõ hơn. Ví như chính sách tỷ giá cần điều hành linh hoạt nhưng không phải biến động lớn”.

Cơ hội để thanh lọc doanh nghiệp

Ông Trần Minh Hoàng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Vinaland

“Đối với lĩnh vực bất động sản, một lĩnh vực phụ thuộc khá nhiều vào vốn ngân hàng thì việc lãi suất chưa tăng cao cũng đã khó rồi. Nay lãi suất cho vay tăng cao thì lại càng khiến cả thị trường khó khăn hơn. Tuy nhiên, theo tôi, trong thời điểm này do áp lực về vĩ mô, bắt buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát. Ngay cả việc điều chỉnh tỷ giá vừa qua cũng là một việc bất khả kháng vì mục tiêu vĩ mô.

Hiện nay, đối với các doanh nghiệp có dự án đang chuẩn bị triển khai thì ngay khi lãi suất chưa tăng cao thì họ đã phải dừng rồi, đã phải “cố thủ” rồi, vì khi lãi suất 16 -18% thì họ cũng đã rất khó khăn. Còn với những doanh nghiệp đang trong giai đoạn triển khai dang dở thì lại càng khó khăn hơn.

Đối với chúng tôi, trong bối cảnh này các dự án đều được dừng lại ở công tác chuẩn bị chứ không thể triển khai trong điều kiện lãi suất vay vốn cao. Còn với khách hàng thì họ cũng gặp khó khăn rất nhiều nếu như họ phải vay mượn nhiều để mua bán bất động sản.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, vì mục tiêu vĩ mô, kiềm chế lạm phát nên chúng ta phải tăng lãi suất, chấp nhận hạn chế tăng trưởng, giảm chi tiêu… Đồng thời, ở góc độ nào đấy, tăng lãi suất cũng là cơ hội để thanh lọc những doanh nghiệp không có năng lực, góp phần đưa thị trường phát triển ổn định và hiệu quả hơn.

Thị trường bất động sản có thể sẽ khó khăn trong nửa đầu năm nay, còn sau đó, nếu lạm phát được kiềm chế thì lãi suất sẽ giảm xuống và thị trường sẽ có cơ hội phục hồi”.

Sẽ phải xét lại các kế hoạch

Ông Đoàn Trọng Lý, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Chăn nuôi chế biến và Xuất nhập khẩu (Aprocimex)

“Doanh nghiệp chúng tôi chuyên nhập khẩu các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nên nhu cầu sử dụng USD là thường xuyên. Tuy nhiên, với việc Ngân hàng Nhà nước công bố điều chỉnh tăng mạnh tỷ giá USD/VND từ cuối tuần trước nên ngay trong sáng nay (14/2), tôi đã phải tạm ngừng đàm phán với đối tác để hủy một đơn hàng với trị giá 200.000 USD như theo kế hoạch đã đề ra.

Bởi, nếu ký kết hợp đồng này thì không biết sắp tới Aprocimex sẽ phải mua USD ở thị trường tự do với giá bao nhiêu rồi bán cho ngân hàng với giá thấp để thực hiện thanh toán hợp đồng.

Hiện Aprocimex là một trong 12 doanh nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về thực hiện bình ổn giá thức ăn chăn nuôi trong nước. Trung bình mỗi năm chúng tôi cung cấp ra thị trường khoảng 200.000 tấn các loại thức ăn chăn nuôi và cần từ 35 - 40 triệu USD để nhập khẩu nguyên vật liệu, thế nhưng chúng tôi lại không được hưởng lợi gì từ chính sách tỷ giá cả.

Thực tế từ lâu rồi Aprocimex và phần lớn các doanh nghiệp khác đã chịu cảnh không mua được USD của ngân hàng mà phải mua ngoài thị trường tự do nhưng khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá tăng gần 10% thì chắc chắn giá USD trên thị trường tự do cũng tăng mạnh theo.

Với tỷ giá trên và giá USD trên thị trường tự do sẽ còn tăng nữa thì Aprocimex chắc chắn sẽ phải cắt giảm kế hoạch và lượng thức ăn chăn nuôi ra thị trường trong năm nay. Đó là một tin không vui với chúng tôi ngay từ đầu năm 2011 này.

Trong năm nay, Aprocimex còn có kế hoạch nâng cấp, mở rộng năng lực sản xuất nhà máy để tăng lượng cung ứng thức ăn chăn nuôi ra thị trường nhưng chắc kế hoạch này cũng sẽ phải xem xét lại. Nếu mở rộng mình sẽ phải vay, phải mua USD để nhập thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, trong khi bối cảnh tỷ giá USD như hiện nay thì sẽ chỉ càng làm khó thêm cho doanh nghiệp.

Với những doanh nghiệp nhập khẩu như Aprocimex, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ thì việc tỷ giả USD/VND tăng cao như vậy sẽ đẩy doanh nghiệp vào cảnh khó khăn hơn. Rất “khổn khổ” cho doanh nghiệp là cứ phải đi mua giá USD ở ngoài thị trường tự do rất cao rồi lại bán cho ngân hàng giá thấp để thanh toán hợp đồng, làm sao mà chúng tôi phát triển được”.

Như trên lưng cọp vậy

Ông Nguyễn Văn Đực, Phó giám đốc Công ty Địa ốc Đất Lành:

“Hiện nay thị trường bất động sản vẫn đang đóng băng do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố lãi suất vay vốn cao. Do đó, việc lãi suất cho vay tăng cao như hiện nay lại khiến thị trường càng khó khăn thêm.

Ngay cả đối với khách hàng, người dân vốn vẫn phải cậy nhờ vào ngân hàng để mua nhà, đất, nay lãi suất lên tới 19 -20% thì tất nhiên họ sẽ không thực hiện được ước muốn mua nhà. Có thể nói đây như là việc đòn “bức tử” tiếp theo cho doanh nghiệp bất động sản cũng như toàn thị trường sau Nghị định 69. Với các doanh nghiệp thì giống như phóng lao thì phải theo lao hay như những người đang ở trên lưng cọp vậy.

Có thể ví việc lãi suất tăng cao như hiện nay đối với doanh nghiệp cũng giống như một người biết mớ rau có phun hóa chất tăng trưởng, ăn vào thì cũng phải vài năm sau mới chết, nhưng nếu không ăn thì lại bị chết đói ngay. Do đó không còn con đường nào khác là doanh nghiệp vẫn tiếp tục phải vay.

Chúng ta ai cũng biết, trong năm 2010, có rất nhiều doanh nghiệp thua lỗ, trong khi nhiều ngân hàng lãi rất cao. Nay các ngân hàng lại tiếp tục tăng lãi suất cho vay thì rõ ràng đây là một sự bất công cần phải có sự can thiệp của nhà nước, các cơ quan quản lý. Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn thì rất cần sự chung tay của tất cả các doanh nghiệp, trong đó có khối ngân hàng. Thậm chí, nhà nước có thể khống chế mức độ lãi của các ngân hàng để nền kinh tế có thể nhanh chóng vượt qua khó khăn.

Chúng ta cũng nên học tập Thái Lan, khi nền kinh tế bắt đầu thoát khỏi khủng hoảng, các lĩnh vực liên quan của họ tự ý thức hợp tác với nhau, mỗi ngành nghề, doanh nghiệp chịu thiệt một chút để cùng vượt khó. Chẳng hạn giá khách sạn giảm một chút, vận tải, hàng không, du lịch… cùng giảm nên du lịch của họ phục hồi nhanh chóng, thu hút lượng khách rất lớn.

Các doanh nghiệp bất động sản hiện nay rất khó khăn, có rất nhiều dự án đang “trùm mền”, khởi công cầm chừng do không có đầu ra. Bên cạnh đó, hiện nay thị trường đang cạnh tranh rất quyết liệt do nguồn cung rất lớn. Có nhiều doanh nghiệp xây xong móng chờ lãi suất hạ để triển khai tiếp, song không ngờ lãi suất lại ngày một tăng cao khiến cho họ đang đứng bên bờ vực phá sản.

Việc tăng lãi suất cho vay của các ngân hàng vào thời điểm này chẳng khác gì đánh một đòn chí tử vào các thị trường nói chung, trong đó có thị trường bất động sản. Do khó khăn trong vay vốn nên chắc chắn nhiều doanh nghiệp sẽ phải chậm tiến độ dự án, vi phạm hợp đồng với khách hàng, hoặc sẽ có nhiều doanh nghiệp phải bán tống bán tháo dự án của mình vì không có đủ vốn để triển khai tiếp.

Một kịch bản xấu cho thị trường bất động sản trong năm nay sẽ được nhiều người nghĩ đến nếu lãi suất cho vay cứ tiếp tục cao như hiện nay”.

Gắng tiết kiệm chi phí tối đa

Ông Bùi Văn Hùng, Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính - Công ty Hyundai Thành Công (HTC)

“Như chúng ta đều biết, đồng tiền VND của chúng ta được Nhà nước quy định tỷ giá. Mỗi biến động của USD đều ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu nói chung và của HTC nói riêng. Việc đồng tiền Việt Nam được Nhà nước điều chỉnh giảm giá trị xuống 9,3% so với đồng USD sẽ có lợi cho các nhà xuất khẩu Việt Nam nhưng nhưng ngược lại sẽ gây khó khăn rất lớn với các đơn vị nhập khẩu là chủ yếu như HTC. Theo đó, Mỗi chiếc xe nhập về Việt Nam giờ đây sẽ phải cộng chi phí do điều chỉnh tỉ giá USD/VND khá lớn, có khi đến cả trăm triệu đồng.

Đây là một mức tăng lớn ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của người tiêu dùng khi đưa ra quyết định mua xe. HTC chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để tiết kiệm chi phí tối đa, đề nghị Nhà nước tháo gỡ khó khăn bằng việc cho giãn thời hạn nộp thuế,… để hạ giá thành nhằm đạt được kế hoạch kinh doanh năm 2011.

Sau khi có quyết định tăng tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước, Hyundai Thành Công cũng đã xem xét thay đổi giá bán phù hợp. Theo đó, những mẫu xe cụ thể như SantaFe có mức tăng từ 27- 47 triệu đồng, i30 CW có mức tăng 16 triệu đồng, Sonata tăng 23 triệu đồng… đây là mức tăng đã được chúng tôi cân nhắc rất kỹ đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà phân phối và người sử dụng. Thực tế mức tăng còn cao hơn khá nhiều”.

Tăng tỷ giá thì lợi xuất khẩu

Ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest)

“Ngân hàng Nhà nước mới đây điều chỉnh tăng tỷ giá giữa USD và VND thêm 9,3% là một quyết định mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Trước đây, khi xuất khẩu đồ gỗ thu về ngoại tệ, các doanh nghiệp đều phải bán lại cho Ngân hàng Nhà nước theo tỷ giá quy định. Nhưng khi cần ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu, các doanh nghiệp này lại phải mua ở các ngân hàng thương mại với mức chênh lệch có khi lên tới 3.000 đồng/1 USD so với giá niêm yết.

Thử hình dung, năm 2010 các doanh nghiệp đồ gỗ xuất khẩu thu về 3,4 tỷ USD, nhưng phải nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD thì phần thua thiệt mà họ phải chịu do sự chênh lệch tỷ giá là không hề nhỏ.

Cũng vì có sự chênh lệch quá lớn giữa tỷ giá USD/VND do Ngân hàng Nhà nước quy định và tỷ giá trên thị trường tự do nên doanh nghiệp luôn phải trả thêm các khoản phí không chính thức khi muốn mua ngoại tệ từ các ngân hàng thương mại ngoài mức giá niêm yết.

Quyết định này của Ngân hàng Nhà nước sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt sẽ khuyến khích các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, cơ quan quản lý tiền tệ cũng cần phải giữa tỷ giá này trong một khoảng thời gian tương đối dài để doanh nghiệp có thể chủ động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thêm vào đó phải có cơ chế quản lý, giám sát để các ngân hàng thương mại phải thực hiện đúng theo quy định”.

Lạm phát, lãi suất và… sau điều chỉnh tỷ giá

Điểm mấu chốt của Việt Nam sau lần phá giá này là phải chấp nhận thắt lưng buộc bụng một thời gian để trả nợ và giữ ổn định kinh tế, tránh không để bị hạ điểm thêm nữa.

Phá giá sẽ làm gánh nặng nợ nước ngoài tăng thêm, đây là một trong những lý do chính nhiều nước cố gắng trì hoãn việc này. Tuy nhiên cần nhìn vấn đề này trên khía cạnh khác. TS Lê Hồng Giang đang làm việc tại quỹ Ngoại hối của công ty đầu tư Tactical Global Management, Úc trả lời phỏng vấn của SGTT.

Theo ông, phá giá tác động thế nào đến lạm phát?

Ngày 11.2, khi ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá, chênh lệch tỷ giá giữa VCB và thị trường tự do đã giảm xuống còn 2,44% so với hơn 9% trước đó. Nhưng sau ngày này, chênh lệch tỷ giá giữa hai khu vực ngân hàng và thị trường tự do lại lớn dần.

Ảnh hưởng của phá giá vào lạm phát khá phức tạp. Các nghiên cứu trong nhóm này (exchange rate pass through – ERPT) chỉ ra ba kênh tạo ra lạm phát gia tăng khi tỷ giá giảm.

Thứ nhất, giá hàng hóa nhập khẩu tăng ảnh hưởng trực tiếp vào mặt bằng giá trong nước. ERPT của hàng nhập khẩu thường khá cao và có độ trễ ngắn. Thứ hai, giá hàng hoá xuất khẩu trên thị trường nội địa cũng có thể tăng vì nhu cầu xuất khẩu tăng làm giảm cung cho thị trường nội địa. Thứ ba, tổng cầu cho hàng hoá sản xuất trong nước, bao gồm cả các hàng hoá chỉ sản xuất và tiêu dùng nội địa (non-tradable) tăng cũng tạo ra sức ép lên lạm phát.

Hầu hết các nghiên cứu định lượng ở các nước đều khẳng định sự hiện diện của ERPT vào CPI, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng chênh lệch khá nhiều giữa các nước. Một nghiên cứu định lượng cho ERPT ở Việt Nam cần phải được thực hiện.

Mối quan tâm hiện nay là liên hệ giữa phá giá và lãi suất. Nhận định của ông như thế nào?

Phá giá về bản chất có nhiều điểm tương đồng với chính sách tiền tệ nới lỏng, nghĩa là nó có tác động kích thích các hoạt động kinh tế trong nước. Bởi vậy, để trung hoà tác động tiền tệ của phá giá trong trường hợp rủi ro lạm phát gia tăng vì ERPT cao, ngân hàng trung ương cần thắt chặt tiền tệ.

Hơn nữa thắt chặt tiền tệ sau khi phá giá là một cách giúp đồng nội tệ không tiếp tục mất giá ít nhất trong ngắn hạn. Việc thắt chặt tiền tệ có tác động làm tổng tiết kiệm nội địa tăng, với điều kiện Chính phủ không gia tăng chi tiêu, do đó giúp cải thiện cán cân cung cầu ngoại tệ.

Trong bối cảnh lãi suất của Việt Nam đã tương đối cao như hiện nay, rất có thể ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ phải thắt chặt tiền tệ thông qua các biện pháp phi lãi suất như tăng dự trữ bắt buộc, tăng hệ số an toàn vốn (CAR), hay siết chặt trần tín dụng.

Nhiều người quan ngại phá giá sẽ làm gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài, thưa ông?

Phá giá sẽ làm gánh nặng nợ nước ngoài tăng thêm, đây là một trong những lý do chính nhiều nước cố gắng trì hoãn việc này. Tuy nhiên cần nhìn vấn đề này trên khía cạnh khác.

Thứ nhất nếu trì hoãn phá giá, gánh nặng nợ nước ngoài sẽ càng phình to và đến một lúc nào đó sẽ vỡ. Chấp nhận thắt lưng buộc bụng bây giờ để trả nợ hay đợi đến lúc vỡ nợ mới phá giá? Chọn lựa cách nào trong hai cách này là một quyết định không khó với một chính phủ có trách nhiệm.

Thứ hai, nếu phá giá để phục hồi lại cân bằng nền kinh tế thì gánh nặng nợ nước ngoài có thể được bù đắp phần nào bằng sự gia tăng hoạt động kinh tế trong nước và luồng vốn nước ngoài chảy vào. Về mặt nguyên tắc, nếu phá giá giúp cải thiện cán cân thương mại thì cả dự trữ ngoại tệ lẫn khả năng trả nợ nước ngoài của một nước sẽ được cải thiện, sẽ góp phần cải thiện xếp hạng tín nhiệm (credit rating).

Do đó điểm mấu chốt của Việt Nam sau lần phá giá này là phải chấp nhận thắt lưng buộc bụng một thời gian để trả nợ và giữ ổn định kinh tế, tránh không để bị hạ điểm thêm nữa.

Liệu lần phá giá này có giúp ta thu hút thêm nhiều đầu tư nước ngoài?

Phá giá là liều thuốc đắng mà Việt Nam phải uống vì đang bị bệnh. Giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người nghèo trong cơn bão này, đầu tư thêm vào các cơ sở giáo dục, y tế dịch vụ công... là cần thiết song song với cắt giảm chi tiêu công không hiệu quả.

Mối liên hệ này khá phức tạp. Về nguyên tắc nếu phá giá để đưa tỷ giá về mức bền vững thì nền kinh tế sẽ ổn định hơn dù trong ngắn hạn tốc độ tăng trưởng có thể bị ảnh hưởng. Trong trường hợp này đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng vì các nhà đầu tư được giải toả rủi ro tỷ giá trong tương lai. Tuy nhiên nếu phá giá không đủ mạnh và uy tín của ngân hàng Trung ương không cao thì các nhà đầu tư có thể vẫn ngần ngại.

Trong hoàn cảnh thiếu thốn số liệu và các nghiên cứu nghiêm túc như ở Việt Nam, việc phá giá chỉ có ý nghĩa “đánh tiếng” (signalling) với các nhà đầu tư. Trong lần phá giá vừa rồi, ngân hàng Nhà nước đã đưa ra hai tín hiệu rõ ràng: phá giá khá mạnh (9,3%) và chuyển sang chính sách điều hành tỷ giá mềm dẻo hơn. Cả hai tín hiệu này “đánh tiếng” cho các nhà đầu tư rằng ổn định vĩ mô sẽ được coi trọng. Một đợt thắt chặt tiền tệ mới (bằng chính sách lãi suất hoặc phi lãi suất) sẽ càng củng cố tín hiệu này.

Phá giá sẽ ảnh hưởng tới tầng lớp dân nghèo. Cần cân nhắc yếu tố tác động này như thế nào?

Hiển nhiên người nghèo không mua những hàng hoá nhập khẩu đắt tiền, nhưng giá xăng dầu tăng, giá điện nước tăng, và ngay cả giá các loại hàng tiêu dùng và thực phẩm rẻ tiền của Trung Quốc cũng tăng sẽ phần nào làm cuộc sống của tầng lớp dân nghèo khó khăn hơn.

Hơn nữa, nếu Chính phủ thực sự đặt mục tiêu tăng trưởng xuống thứ yếu, chính sách này sẽ gián tiếp làm giảm cơ hội việc làm và thu nhập của đa số người dân. Do vậy những biện pháp giúp đỡ người nghèo cần được đẩy mạnh.

Những khoản chi tiêu, đầu tư công không rõ hiệu quả cần cắt giảm hoặc trì hoãn để dồn tiền cho các chương trình trợ cấp cho dân nghèo. Đầu tư thêm vào các cơ sở giáo dục, y tế, dịch vụ công cũng là cách giúp giảm gánh nặng chi tiêu cho người dân nói chung và dân nghèo nói riêng.

Phá giá là liều thuốc đắng Việt Nam phải uống vì đang bị bệnh. Những người làm chính sách cần nhớ rằng tầng lớp dân nghèo không có lỗi gì cả khi tỷ giá và cán cân ngoại thương quá mất cân đối lâu nay. Bởi vậy phải đảm bảo ảnh hưởng của chính sách phá giá đối với họ là thấp nhất.