Thursday, September 27, 2012
LỊCH SỬ MIỄN PHÍ
Số 0
Khi người Ấn Độ phát minh ra môn đại số, họ mở rộng thêm số âm và số 0 từ thế kỷ IX. Từ “zero” trong ngôn ngữ Ấn là Sunya, có nghĩa là trống rỗng, người Ả Rập chuyển thành sifr, phương Tây Latin hóa nó thành zephirus, chính là gốc của từ zero.
Rắc rối của miễn phí
Đến năm 900, đã có đủ ký hiệu lẫn cơ sở đại số cho khái niệm “không” thì nó đã cùng tồn tại song song với khái niệm “economics”. Từ nguồn gốc Hy Lạp cổ, oikos (nhà) và nomos (tập quán hay luật lệ) do đó nó có ý nghĩa là “luật gia đình” và miễn phí luôn là luật trong nhà.
Từ khi nền kinh tế trên cơ sở tiền tệ hình thành, các giao dịch hầu như không liên quan đến giá cả mà dựa trên sự hào phóng, tin tưởng, thiện chí giữa các láng giềng và các nhóm xã hội. Vào thế kỷ XVII, khái niệm thuế lũy tiến ra đời, việc thành lập các thể chế nhà nước tạo ra một dạng miễn phí đặc biệt: bạn có thể không trả phí cho dịch vụ của chính quyền, nhưng bạn sẽ chẳng bao giờ biết chính xác bao nhiêu tiền thuế của mình được dùng để phục vụ trực tiếp cho bạn.
Bữa trưa miễn phí đầu tiên
Đến cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế thị trường đã được thiết lập vững vàng, đồng tiền đã chứng tỏ mình là xúc tác cho tăng trưởng và là chìa khóa để đến với thịnh vượng. Đến thời kỳ mà King Gillette và Pearle Wait tạo dựng được cả gia sản từ miễn phí, khách hàng đã quen thuộc với câu “làm gì có bữa trưa miễn phí”.
Hàng mẫu, quà tặng và dùng thử
Vào đầu thế kỷ XX, miễn phí đã trở thành một mẹo bán hàng. Xà phòng Babbitt’s Soap trở nên nổi tiếng toàn quốc nhờ các chiến dịch quảng cáo và khuyến mãi, trong đó có đợt phân phối hàng dùng thử miễn phí trên quy mô lớn đầu tiên.
Free như một vũ khí cạnh tranh
Ngày nay, chúng ta biết rằng cách hủy diệt nhất để xâm nhập thị trường là phá hủy tính kinh tế của những mô hình kinh doanh đang tồn tại. Chẳng hạn không tính tiền sản phẩm đang là nguồn lợi nhuận chủ yếu của đối thủ.
Vụ đánh cược sai lầm của Ehrlick
Ý tưởng hàng hóa sẽ trở thành rẻ hơn chứ không đắt hơn theo thời gian là ngược với trực giác. Thực phẩm có thể tái tạo chứ khoáng sản thì không, chúng ta khai quặng càng nhiều thì còn lại càng ít, đó là điển hình của khan hiếm trong lúc dân số thế giới ngày càng gia tăng. Nhưng tháng 9/1980, Paul Ehrlick, một nhà sinh học dân số, và Julian Simon, một nhà kinh tế học, đã đánh cược với nhau một cách công khai với số tiền là 10.000 USD.
Simon tuyên bố: “Giá của các nguyên liệu khô mà nhà nước không kiểm soát sẽ không tăng trong dài hạn”. Ehrlick chọn năm kim loại là đồng, chrome, nickel, thiếc và tungsten. Mười năm sau, giá các kim loại đó đã giảm hơn một nửa - Simon đã thắng cược. Vì sao Simon thắng cược? Vì ông là một nhà kinh tế tài ba, hiểu được tác động của hàng hóa thay thế: Nếu một mặt hàng trở nên quá khan hiếm và đắt đỏ, đó sẽ là động cơ để tìm kiếm mặt hàng thay thế có nhiều hơn. Óc sáng tạo của loài người và khả năng rút kinh nghiệm trong khoa học và công nghệ sẽ có xu hướng tạo ra các nguồn lực mới nhanh hơn tốc độ sử dụng.
Mù lòa trước dư dả
Điều hiển nhiên là Simon có nhiều cơ hội thắng cuộc hơn. Nhưng khuynh hướng để ý đến những thứ khan hiếm hơn là thừa thãi xuất hiện. Ví dụ tiêu biểu nhất là plastic: người ta bán thế hệ chất dẻo plastic đầu tiên không phải như chất dùng xong rồi bỏ, nhưng thế hệ thứ hai của plastic với Vinyl và Polystyrene thì rẻ đến nỗi người ta có thể dùng xong rồi vứt đi mà không phải bận tâm chút nào.
Sau thập niên 70, thái độ đối với siêu thừa thãi như vậy đã bắt đầu thay đổi. Chi phí xử lý môi trường phải trả cho văn hóa tiêu dùng một lần rồi bỏ đã trở nên rõ ràng hơn. Cho nên, một thế hệ mới bắt đầu công việc tái chế đồ bỏ đi.
Sự thừa thãi lên ngôi
Câu chuyện của thế kỷ XX là câu chuyện sự thay đổi ghê gớm về mặt xã hội và kinh tế do sự dư dả dẫn dắt. Tương tự như việc nước luôn luôn chảy xuôi, tính kinh tế chảy về phía có sự dư thừa. Những công ty tìm kiếm lợi nhuận phải ngược dòng tìm kiếm sự khan hiếm mới, điều đó Tim O’Reilly gọi là “ định luật bảo toàn mức lợi nhuận hấp dẫn”. Ngày nay, chỉ còn 32% công ty chế tạo ra sản phẩm cầm nắm được. Các công ty còn lại chuyển qua cung cấp dịch vụ, tạo ra sản phẩm sở hữu trí tuệ, tạo ra thị trường cho sản phẩm của những người khác.
Một vài thập kỷ trước, giá trị lớn nhất nằm trong sản xuất. Sau đó toàn cầu hóa nằm trong sản xuất. Ngày nay mức lợi nhuận cao nhất thường thấy ở những nơi chất xám kết hợp với vật chất. Sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và tư duy trừu tượng là điều làm nên một người lao động tri thức có hiệu quả.
Monday, September 17, 2012
Tấm bảng đen trong nhà
Một chi tiết thiết kế nhỏ trong nhà vừa mang lại một vẻ khác lạ độc đáo vừa tạo nên sự tiện dụng tuyệt vời cho không gian nhà bạn.
Một chi tiết thiết kế nhỏ trong nhà vừa mang lại một vẻ khác lạ độc đáo vừa tạo nên sự tiện dụng tuyệt vời cho không gian nhà bạn.
Nếu bạn từng nghĩ bảng đen là món đồ dùng chỉ có thể sử dụng trong không gian những lớp học thì hãy suy nghĩ lại. Một mảng bảng đen đặt trong nội thất sẽ giúp giải quyết được nhiều điều.
Đầu tiên là tính tiện dụng. Từ một tin nhắn, thông báo nhỏ, lời chúc mừng… tới các thành viên trong nhà, cho đến những thông tin cần nhắc nhở, cần ghi nhớ, bao nhiêu là điều nhỏ nhặt trong ngày cần phải thực hiện.
Với một tấm bảng đen, nhật ký của cả gia đình bạn được thể hiện thật chi tiết và đảm bảo đầy đủ. Vậy hẳn nhiên bạn đã thấy bảng đen cần phải hiện diện trong nội thất nhà mình rồi chứ.
Về mặt thẩm mỹ, bạn có lo sợ rằng chi tiết bảng đen này làm mất đi vẻ đẹp chung của ngôi nhà?
Hãy yên tâm, những hình ảnh sưu tầm mà chúng tôi giới thiệu sẽ cho bạn thấy không những chúng không làm giảm vẻ hoàn hảo mà còn góp phần tăng giá trị thẩm mỹ của không gian nội thất nhà bạn. Hơn nữa, về khía cạnh tình cảm, những dòng chữ viết tay của người thân trên bảng gợi cho chúng ta cảm giác thật ấm áp, đầy thương yêu.
Bây giờ, hẳn bạn đã đồng ý rằng một tấm bảng đen là chi tiết cần thiết trong ngôi nhà hiện đại của chúng ta ngày nay. Vấn đề là nó sẽ xuất hiện ở đâu?
Thông thường những nhà trang trí khuyên chúng ta nên đặt chúng ở không gian nhà bếp. Đúng thế, nhà bếp ngày nay đã trở thành “trái tim” của ngôi nhà, nơi mà mọi thành viên đều họp mặt vào thời điểm nhất định trong ngày, nên việc hiện diện bảng thông báo ở đây là hợp lý nhất.
Tuy nhiên, nếu gia đình bạn là một gia đình trẻ và các bạn thường làm việc tại nhà thì đặt bảng đen tại không gian làm việc cũng hợp lý. Về mặt thiết kế, có thể bạn cẩn thận đóng lấy một tấm bảng rồi sơn lên và treo trên tường; hay đơn giản hơn bạn chọn một mảng tường trống nào đó, cân nhắc kích thước hợp lý rồi sơn lên thế là xong; cũng rất ngẫu hứng nếu bạn tận dụng ngay một cánh cửa tủ nhà bếp hay tủ chứa đồ ở hành lang làm bảng thông báo.
Chuyện màu sắc thì sao? Đâu cứ phải màu đen là bất di bất dịch, hãy thử những màu khác sao cho màu ấy có thể làm nền để thông báo của bạn nổi bật lên. Và cũng vì lý do trang trí nữa nên tấm bảng của nhà bạn cần phải hòa hợp với màu sắc chung của không gian.
Còn chần chờ gì nữa, nếu cảm thấy những điều kể trên là hợp lý thì ngay cuối tuần này bạn hãy cùng các thành viên trong nhà bắt tay thực hiện ngay một tấm bảng như thế. Chúc bạn thành công!
| Và tại góc làm việc |
Nếu bạn từng nghĩ bảng đen là món đồ dùng chỉ có thể sử dụng trong không gian những lớp học thì hãy suy nghĩ lại. Một mảng bảng đen đặt trong nội thất sẽ giúp giải quyết được nhiều điều.
Đầu tiên là tính tiện dụng. Từ một tin nhắn, thông báo nhỏ, lời chúc mừng… tới các thành viên trong nhà, cho đến những thông tin cần nhắc nhở, cần ghi nhớ, bao nhiêu là điều nhỏ nhặt trong ngày cần phải thực hiện.
Với một tấm bảng đen, nhật ký của cả gia đình bạn được thể hiện thật chi tiết và đảm bảo đầy đủ. Vậy hẳn nhiên bạn đã thấy bảng đen cần phải hiện diện trong nội thất nhà mình rồi chứ.
| Bảng thực đơn viết tay tại quán ăn Duck Deli |
Hãy yên tâm, những hình ảnh sưu tầm mà chúng tôi giới thiệu sẽ cho bạn thấy không những chúng không làm giảm vẻ hoàn hảo mà còn góp phần tăng giá trị thẩm mỹ của không gian nội thất nhà bạn. Hơn nữa, về khía cạnh tình cảm, những dòng chữ viết tay của người thân trên bảng gợi cho chúng ta cảm giác thật ấm áp, đầy thương yêu.
Bây giờ, hẳn bạn đã đồng ý rằng một tấm bảng đen là chi tiết cần thiết trong ngôi nhà hiện đại của chúng ta ngày nay. Vấn đề là nó sẽ xuất hiện ở đâu?
Thông thường những nhà trang trí khuyên chúng ta nên đặt chúng ở không gian nhà bếp. Đúng thế, nhà bếp ngày nay đã trở thành “trái tim” của ngôi nhà, nơi mà mọi thành viên đều họp mặt vào thời điểm nhất định trong ngày, nên việc hiện diện bảng thông báo ở đây là hợp lý nhất.
| Tấm bảng ở gian bếp |
Chuyện màu sắc thì sao? Đâu cứ phải màu đen là bất di bất dịch, hãy thử những màu khác sao cho màu ấy có thể làm nền để thông báo của bạn nổi bật lên. Và cũng vì lý do trang trí nữa nên tấm bảng của nhà bạn cần phải hòa hợp với màu sắc chung của không gian.
Còn chần chờ gì nữa, nếu cảm thấy những điều kể trên là hợp lý thì ngay cuối tuần này bạn hãy cùng các thành viên trong nhà bắt tay thực hiện ngay một tấm bảng như thế. Chúc bạn thành công!
| Bảng ghi chú nơi cánh cửa |
Thursday, September 6, 2012
Phân vai lãnh đạo - quản lý
Nhà quản lý tìm cách làm thật tốt một công việc, còn người lãnh đạo lại cố gắng xác định đúng công việc để làm. Điều này cho thấy, tuy ở vị trí đứng đầu, nhưng vai trò của nhà quản lý và lãnh đạo hoàn toàn khác biệt. Nhầm lẫn giữa hai vai trò này khiến hoạt động của nhiều doanh nghiệp bế tắc.
Ông Trịnh Thành Thịnh, Giám đốc Phân phối của MegaStar Media, đặt vấn đề: Do chưa hiểu rõ vai trò của người lãnh đạo với quản lý, nhất là thường bị nhầm lẫn giữa hai vị trí này, nên những người từ vị trí quản lý lên làm lãnh đạo thường gặp trở ngại do thiếu sót một vài kiến thức có liên quan.
Ông Trịnh Thành Thịnh, Giám đốc Phân phối của MegaStar Media, đặt vấn đề: Do chưa hiểu rõ vai trò của người lãnh đạo với quản lý, nhất là thường bị nhầm lẫn giữa hai vị trí này, nên những người từ vị trí quản lý lên làm lãnh đạo thường gặp trở ngại do thiếu sót một vài kiến thức có liên quan.
Cũng chính vì sự nhầm lẫn này mà những người lãnh đạo chưa xác định được khi nào áp dụng vai trò quản lý, khi nào áp dụng vai trò lãnh đạo và cân bằng giữa hai vai trò trong công việc”.
Theo ông Thịnh, các nhà lãnh đạo thường hay nói về tầm nhìn, sứ mệnh, khích lệ nhân viên của mình nhiều hơn, truyền cảm hứng làm việc cho họ...
Còn các nhà quản lý thường nói nhiều hơn về quy trình làm việc, hệ thống, công việc, mục tiêu giám sát và điều phối công việc nhiều hơn..
Về cơ bản, hai vai trò hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, để hoạt động của DN hiệu quả phải tùy thuộc vào tình huống. Chẳng hạn, có những lúc tình hình kinh tế khác nhau như lạm phát, khủng hoảng tài chính thì cần quản lý nhiều hơn, thắt chặt nhiều hơn...
Nhưng khi khủng hoảng về con người, ví dụ như việc thiếu nguồn nhân lực cấp trung, thiếu nguồn nhân lực cấp cao, người lao động thiếu kỹ năng quản lý... thì rất cần vai trò người lãnh đạo.
Theo ông Nguyễn Anh Huy, Giám đốc Talentlink Center, trong tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát, tỷ giá thay đổi liên tục, trong điều hành DN có rất nhiều rủi ro.
Như vậy, khi kinh tế khủng hoảng, chúng ta thực hiện vai trò quản lý nhiều hơn là vai trò lãnh đạo, nhưng để thiết lập ra hệ thống quản lý tốt, để cho mỗi người làm theo sự quản lý đó thì cần thực hiện vai trò lãnh đạo để hướng mọi người đến sự thay đổi đó. Cũng trong thời buổi kinh tế khó khăn, vai trò của người lãnh đạo cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Trước đây, chúng ta khuyến khích nhân viên làm việc, nhưng bây giờ phải theo sát từng bộ phận, từng ngành kinh doanh, chúng ta giám sát về lãi lỗ, về thu mua, tổn thất, dòng tiền tệ, vay ngân hàng như thế nào... từ đó mới có thể quản lý chặt và mang lại hiệu quả kinh doanh.
Bằng kinh nghiệm của mình, ông John Vong, Cố vấn cấp cao của Tập đoàn Sacombank, khuyên những người lãnh đạo đang giữ vai trò Chủ tịch HĐQT hãy tìm người tổng giám đốc giỏi nhất và “đứng sau” những vị này.
Vì khi là Chủ tịch HĐQT, lãnh đạo nên đóng vai trò là trọng tài hơn là đóng vai trò cầu thủ trên sân bóng. Nếu lãnh đạo vẫn muốn tham gia vào cầu thủ thì xảy ra việc vừa đá bóng vừa thổi còi thì tình huống nó sẽ khó khăn. Đó là lý do tại sao các hoạt động của các công ty ở Việt Nam trở nên rắc rối vì các công ty ở Việt Nam thì trọng tài và cầu thủ là một.
Thực tế, cũng có nhiều trường hợp khi công ty nhỏ, các nhân viên với kinh nghiệm còn non trẻ, chưa cọ xát với thực tế nhiều, thường làm việc với sếp trên cơ sở vừa tôn trọng, vừa sợ sếp.
Sau đó, khi quy trình làm việc đã vào quy củ, nhân viên có kinh nghiệm, được giao quyền, chủ động trong công việc thì bắt đầu “lạc lối”. Theo ông John Vong, trong tình huống này, nếu công ty chỉ có mình bạn là lãnh đạo, thì cần tạo ra một nhóm những nhà lãnh đạo nhỏ để củng hỗ trợ nhau.
Nếu công ty có những người nhân viên khác nhau thì việc quản lý phụ thuộc vào những cấp nhân viên với những phẩm chất khác nhau. Nếu họ có kiến thức, có thái độ tốt, thì nên giao quyền để họ làm việc. Trong khi đó, khi nhân viên còn thiếu kiến thức, chưa có thái độ tốt thì cần phải giám sát, theo dõi công việc của họ.
Vị trí quản lý và lãnh đạo ở DN Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào ý thức, chất lượng của nguồn nhân lực. Nếu nhân viên giỏi, tôn trọng cam kết thì rất thuận tiện để giao việc, giao quyền.
Nhưng nếu nhân viên chưa nhân thức rõ được công việc, không có tính cam kết thì bắt buộc, người sếp phải đóng vai trò cả người quản lý, vừa phải hối thúc, kiểm soát, kiểm tra gắt gao hiệu quả công việc.
Ông John Vong cũng cho biết đang quản lý DN ở 5 quốc gia. Ông Vong là người lớn tuổi thứ 3 ở các DN này, nhưng ông vẫn chuyển giao quyền lực cho những nhân viên nhỏ hơn ông từ 15 - 20 tuổi.
Ông chia sẻ: “Khi muốn DN phát triển thì cần phải mạnh dạn tin tưởng vào nhân viên, giao quyền cho họ. Cố tập trung quyền lực vào tay mình, thì cuối cùng hoạt động kinh doanh sẽ chỉ tồn tại đến thế hệ của mình mà thôi.
Cần phải chuyển giao công việc, quyền lực, huấn luyện nhân viên để họ có thể tiếp quản công việc tốt khi không có mặt mình. Song, điều quan trọng nhất là người lãnh đạo cần phải thích nghi với từng thay đổi của hoàn cảnh thực tế để có thể thực hiện tốt vai trò của mình”.
Càng họp nhiều, càng ngu
Hội họp nhiều không những gây lãng phí thời gian mà còn khiến chỉ số IQ của con người ngày càng giảm sút, theo một nghiên cứu mới đây của Mỹ.
Theo nghiên cứu do Học viện công nghệ Virginia, Mỹ tiến hành, các kiểu hội nghị thảo luận tiền lương, họp bàn phân công công tác, hội nghị có tiệc cocktail… đều ảnh hưởng xấu tới chỉ số IQ của con người.
Trong các cuộc họp này, IQ của những người tham dự sẽ khá kém cỏi, bởi một số người vì muốn thể hiện rõ năng lực của bản thân, đầu óc sẽ bị phân tán vào mục đích bảo vệ vị trí của mình trong đám đông, khiến tâm trạng luôn lo lắng, căng thẳng.
Montagu, một chuyên gia trong nhóm nghiên cứu, lý giải: “Mọi người thường hài hước cho rằng, hội họp khiến con người cảm thấy bộ não lúc này như một cỗ máy chết, và kết quả nghiên cứu lại khẳng định, đó là sự thực”.
Nghiên cứu này được tiến hành với 70 đối tượng tình nguyện tại hai trường đại học của Mỹ. Họ được tham gia các bài test IQ. Kết quả cho thấy, chỉ số IQ trung bình của mọi người là 126. Sau đó, các chuyên gia lại căn cứ vào kết quả này để chia đối tượng nghiên cứu thành 5 nhóm nhỏ và tiếp tục cho họ test IQ lần hai. Mỗi tình nguyện viên sau khi hoàn thành một câu hỏi, các chuyên gia sẽ công bố điểm số xếp hạng của họ trong nhóm. Kết quả là, thành tích test IQ vòng hai của nhiều người trong số này tụt lùi hơn hẳn so với lần một.
Chuyên gia Kenneth Kishida cho biết, khi được thông báo về điểm số xếp hạng trong nhóm, nhiều vùng trong bộ não của các tình nguyện viên bỗng hoạt động mạnh, đặc biệt là hạch hạnh nhân, vỏ não trước trán và nhân accumbens. Trong đó, hạch hạnh nhân là khu vực chuyên xử lý cảm xúc, vỏ não trước trán là một trung tâm điều hành của bộ não, có kỹ năng đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề. Riêng vùng nhân accumben trong não bộ có liên quan tới khoái lạc của con người.
Chuyên gia Kishida cũng tiết lộ, trên một mức độ nhất định, môi trường nhóm khiến phụ nữ cảm thấy áp lực và ảnh hưởng nhiều tới chỉ số IQ của họ. Trong số 13 nữ tình nguyện viên, chỉ có ba người vẫn giữ được chỉ số IQ bình thường trong lần test thứ hai, 10 người còn lại có kết quả khá tệ.
Theo nghiên cứu do Học viện công nghệ Virginia, Mỹ tiến hành, các kiểu hội nghị thảo luận tiền lương, họp bàn phân công công tác, hội nghị có tiệc cocktail… đều ảnh hưởng xấu tới chỉ số IQ của con người.
Trong các cuộc họp này, IQ của những người tham dự sẽ khá kém cỏi, bởi một số người vì muốn thể hiện rõ năng lực của bản thân, đầu óc sẽ bị phân tán vào mục đích bảo vệ vị trí của mình trong đám đông, khiến tâm trạng luôn lo lắng, căng thẳng.
Montagu, một chuyên gia trong nhóm nghiên cứu, lý giải: “Mọi người thường hài hước cho rằng, hội họp khiến con người cảm thấy bộ não lúc này như một cỗ máy chết, và kết quả nghiên cứu lại khẳng định, đó là sự thực”.
Thực tế, hội họp liên miên sẽ khiến đầu óc con người đơ như một cỗ máy chết. Ảnh minh họa.
Nghiên cứu này được tiến hành với 70 đối tượng tình nguyện tại hai trường đại học của Mỹ. Họ được tham gia các bài test IQ. Kết quả cho thấy, chỉ số IQ trung bình của mọi người là 126. Sau đó, các chuyên gia lại căn cứ vào kết quả này để chia đối tượng nghiên cứu thành 5 nhóm nhỏ và tiếp tục cho họ test IQ lần hai. Mỗi tình nguyện viên sau khi hoàn thành một câu hỏi, các chuyên gia sẽ công bố điểm số xếp hạng của họ trong nhóm. Kết quả là, thành tích test IQ vòng hai của nhiều người trong số này tụt lùi hơn hẳn so với lần một.
Chuyên gia Kenneth Kishida cho biết, khi được thông báo về điểm số xếp hạng trong nhóm, nhiều vùng trong bộ não của các tình nguyện viên bỗng hoạt động mạnh, đặc biệt là hạch hạnh nhân, vỏ não trước trán và nhân accumbens. Trong đó, hạch hạnh nhân là khu vực chuyên xử lý cảm xúc, vỏ não trước trán là một trung tâm điều hành của bộ não, có kỹ năng đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề. Riêng vùng nhân accumben trong não bộ có liên quan tới khoái lạc của con người.
Chuyên gia Kishida cũng tiết lộ, trên một mức độ nhất định, môi trường nhóm khiến phụ nữ cảm thấy áp lực và ảnh hưởng nhiều tới chỉ số IQ của họ. Trong số 13 nữ tình nguyện viên, chỉ có ba người vẫn giữ được chỉ số IQ bình thường trong lần test thứ hai, 10 người còn lại có kết quả khá tệ.
Nguồn: Đất Việt
Những "căn bệnh chết người" của doanh nghiệp Việt
Những kết quả đáng thất vọng này xuất phát từ bối cảnh khó khăn chung ở trong và ngoài nước và cũng từ những chiến lược phát triển non kém của các doanh nghiệp Việt trong một thập kỷ trở lại đây. Câu chuyện này đã được mổ xẻ một cách khách quan tại Hội nghị đầu tư 2012 với tên gọi “Căn bệnh thập kỷ của doanh nghiệp Việt Nam” vừa được tổ chức ở cả TP.HCM lẫn Hà Nội.
“Những sự thay đổi rất thú vị...”
Ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương tỏ ra đầy ẩn ý khi được hỏi về nhận định nền kinh tế của Việt Nam trong năm 2013: “Hiện nay, Tôi không dám đoán gì cả nhưng tôi tin kinh tế Việt Nam tiếp tục chứng kiến những sự thay đổi rất thú vị, ít nhất là cho đến nửa đầu năm 2013”.
Trên thực tế, tiếp nối tình trạng khó khăn năm 2011, từ đầu năm 2012 đến nay, những con số quá khiêm tốn vẫn tiếp tục được đưa ra: tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong 6 tháng đầu năm chỉ đạt 4,38% so với cùng kỳ năm ngoái, tín dụng của toàn bộ nền kinh tế hầu như không tăng trưởng, hơn 30.000 doanh nghiệp bị giải thể hay tạm ngừng hoạt động tính đến hết tháng 7.
Những kết quả đáng thất vọng này xuất phát từ bối cảnh khó khăn chung ở trong và ngoài nước và cũng từ những chiến lược phát triển non kém của các doanh nghiệp Việt trong một thập kỷ trở lại đây. Câu chuyện này đã được mổ xẻ một cách khách quan tại Hội nghị đầu tư 2012 với tên gọi “Căn bệnh thập kỷ của doanh nghiệp Việt Nam” vừa được tổ chức tại cả TP.HCM lẫn Hà Nội.
Nô lệ của vốn ngân hàng
Bệnh đầu tiên được “thăm khám” là tình trạng lệ thuộc vốn ngân hàng của doanh nghiệp nội địa. Ông Võ Trí Thành tỏ ra e ngại về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Theo ông, các doanh nghiệp nước ngoài thường sử dụng tới 30% lợi nhuận để tái đầu tư, còn doanh nghiệp Việt Nam thì con số này rất thấp; họ chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng.
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách Công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cũng đồng tình với quan điểm này.
Theo ông, tỉ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu qua cuộc khảo sát 647 doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán trong quý II/2012 (đã loại trừ các ngân hàng và các công ty tài chính) là 1,53, cao hơn rất nhiều so với các công ty niêm yết tại Mỹ và Trung Quốc, với tỉ lệ lần lượt là 1,2 và 1,06.
Tình trạng vay nợ quá nhiều này đã diễn ra rộn ràng ngay từ đầu những năm 2000. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính cao đã trở thành con dao hai lưỡi đối với các doanh nghiệp.
Một mặt, nó góp phần gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp nếu khoản đầu tư có hiệu quả nhưng cũng sẽ xói mòn lợi nhuận nếu kinh doanh đi xuống.
Đến khi Việt Nam đối mặt với khủng hoảng, mặt trái của đòn bẩy tài chính đã bộc lộ. Gánh nặng lãi vay, trong khi sản xuất đình đốn đã khiến một loạt các doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản, hình thành những xác chết lâm sàng, mà tiêu biểu gần đây là Công ty Thủy sản Bình An.
Theo thống kê của ông Xuân Thành, những ngành kinh doanh có tỉ lệ nợ/ vốn chủ sở hữu cao là xây dựng và bất động sản, năng lượng, nguyên vật liệu. Thấp nhất là ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Đây là minh chứng rõ nét cho chu kỳ kinh tế Việt Nam vừa qua gắn liền với cơn mê muội bất động sản.
Không chỉ khối tư nhân, các doanh nghiệp nhà nước cũng nợ đìa với tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu trung bình là 1,71 (theo Bộ Tài chính). Đáng chú ý là những tập đoàn, tổng công ty lớn lại là những doanh nghiệp có tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu khá cao như tập đoàn điện lực Việt Nam (tỉ lệ: 4,26), Sông Đà (8,85), Tập đoàn HUD (6,36), Petrolimex (6,29), Vinalines (4,27).
Và như một tất yếu, để đáp ứng nhu cầu vốn quá lớn của các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng đã không ngừng bành trướng về cả số lượng lẫn quy mô. Tính đến cuối năm 2011, quy mô vốn điều lệ của khối ngân hàng Việt Nam đã tăng hơn 9 lần so với cuối năm 2004.
Tỉ lệ dư nợ tín dụng ngân hàng/GDP của Việt Nam trong các năm qua cũng tăng lên ở mức chóng mặt. Tỉ lệ này đã tăng từ mức thấp khoảng 40% vào những năm 2000 lên mức hơn 130% vào năm 2010; quá nhanh so với Philippines, Indonesia, Thái Lan và Malaysia.
Nguồn vốn dễ dãi cũng đã khuyến khích các doanh nghiệp nội địa đầu tư đa ngành vào những ngành nhiều rủi ro, nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán và đã bị ảnh hưởng tiêu cực khi các lĩnh vực này đóng băng.
Và khi doanh nghiệp nguy khốn thì ngân hàng cũng lao đao. Dù trên báo cáo tài chính của nhiều ngân hàng, tỉ lệ nợ xấu vẫn không cao nhưng theo ông Xuân Thành, các khoản mục nợ xấu đã được ngân hàng che giấu và chuyển sang các hạng mục khác như khoản phải thu, tài sản khác và nợ khác, khiến cho các hạng mục này tăng lên rất nhanh (dựa trên so sánh báo cáo tài chính năm 2011 và 2010 của 37 ngân hàng).
Đa ngành tốt hay xấu?
Trong khi ông Xuân Thành lưu ý về đầu tư đa ngành không hiệu quả như là lý do để các doanh nghiệp phải vất vả ngày hôm nay thì ông Nguyễn Nam Sơn, Giám đốc Điều hành Quỹ Đầu tư Vietnam Capital Partners (VCP), lại đưa ra một cách nhìn cụ thể.
Ông nói: “Hiện tượng đầu tư đa ngành diễn ra ở đa số các doanh nghiệp. Rất nhiều công ty lớn đầu tư vào ngân hàng, chứng khoán và bất động sản. Trong vòng 2 năm tới, theo tôi, có đến 90% công ty chứng khoán sẽ phải đóng cửa, chỉ có 5-7 công ty tồn tại lâu dài”.
Một ví dụ điển hình về hiệu quả hoạt động được ông Sơn đưa ra là hai công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) và Chứng khoán Sacombank (SBS), trực thuộc ngân hàng Sacombank.
Trong khi SSI tập trung vào các năng lực cốt lõi của mình là quản trị rủi ro, tự doanh, quản lý tài sản, dịch vụ ngân hàng đầu tư, đội ngũ nghiên cứu mạnh, môi giới cho khách hàng cá nhân lẫn tổ chức thì SBS lại làm ngược lại. Hệ quả là dù thị trường có khó khăn nhưng lợi nhuận của SSI không bị ảnh hưởng nhiều. Trong khi đó, SBS đã bị lỗ và công bố lỗ cả ngàn tỉ đồng kể từ cuối năm 2011.
Ví dụ thứ hai là công ty Kinh Đô và Vinamilk. Kinh Đô do đầu tư vào bất động sản thiếu hiệu quả nên sức phát triển đã bị giảm đáng kể trong những năm gần đây. Ước tính từ năm 2007 đến nay, Kinh Đô đã rót khoảng 13% tổng tài sản vào các dự án bất động sản.
Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện qua chỉ số lợi nhuận/vốn (ROE) của Kinh Đô hiện chưa tới 10%, xấp xỉ mức của năm 2007. Trong khi đó, tính từ năm 2007 đến nay, chỉ số này của Vinamilk đã tăng gấp đôi, gần 40%.
Ông Nam Sơn cho rằng, sai lầm do đầu tư đa ngành bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là Hội đồng Quản trị và Ban điều hành hoạt động thiếu hiệu quả do thiếu kinh nghiệm và kiến thức, lạm quyền và chưa có tính độc lập khi ra các quyết định. Thứ hai là không vạch ra được chiến lược đầu tư và tài chính dài hạn, không am hiểu thị trường mình kinh doanh.
Một góc nhìn nhỏ để chứng minh cho luận điểm trên là khi ông Nam Sơn so sánh mô hình Hội đồng Quản trị tiêu biểu của Công ty Capital Land (Singapore) với đa số các công ty Việt Nam.
Dễ thấy là những người lãnh đạo Capital Land từ Chủ tịch cho tới Tổng Giám đốc đều hơn 60 tuổi. Họ hầu hết đều có bằng cấp trung bình là Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ kinh tế đồng thời có nhiều năm làm việc cho các tập đoàn toàn cầu như Shell, ngân hàng Goldman Sachs, Deutsche Bank.
Trong khi đó ở Việt Nam, hầu hết các thành viên lãnh đạo đều ở độ tuổi trung bình là 32, chưa có kinh nghiệm làm việc ở môi trường tài chính toàn cầu hoặc tốt nghiệp những ngành không liên quan đến tài chính và làm việc nhờ ưu thế người thân của lãnh đạo cấp cao.
Đó là chưa kể đến việc ban quản trị thiếu chiến lược tài chính và chiến lược thị trường dài hạn. “Không nhiều doanh nghiệp vạch ra kế hoạch kinh doanh dài hạn từ 5 năm đến 10 năm mà chỉ 1 năm”, ông Nam Sơn nhận xét.
Tuy vậy, ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty DOJI, người sở hữu 6 công ty con và hoạt động đa ngành khá thành công trong các lĩnh vực trang sức, nhà hàng, khoáng sản, khu công nghiệp, thương mại, băng vệ sinh lại cho rằng, vấn đề không phải có nên đầu tư đa ngành hay không mà là phải chọn cách thức đầu tư đa ngành hợp lý để tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Vì thế, ông cho biết khi bước vào lĩnh vực nào, ông cũng đều khá thận trọng. Ông Minh Phú chia sẻ rằng chưa bao giờ có ý định sẽ dùng tiền của ngân hàng Tiên Phong (một ngân hàng mà ông và em trai đã mua lại gần đây) để tài trợ cho các công ty con khác. Và với các công ty của mình, ông cũng không có ý định biến chúng thành công ty gia đình.
“Tôi không tán thành chuyện mua ngân hàng để dùng nó vào các mục đích đầu tư khác. Điều này vô cùng rủi ro về mặt pháp lý. Bên cạnh đó, nếu để tình trạng xảy ra sở hữu chéo giữa các công ty và ngân hàng, có thể chúng ta sẽ đối mặt với nhiều kết cục bi thảm”, ông Minh Phú nói.
Dù vậy, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại, vẫn cho rằng Việt Nam nên xem xét cách làm của Hàn Quốc. Đó là những ông chủ đã sở hữu ngân hàng không được phép sở hữu những doanh nghiệp khác.
Bất động sản sẽ chết trong vòng 2 năm tới
Phần lớn các công ty hoạt động đa ngành đều dính đến bất động sản và đây là vấn đề được thảo luận sôi nổi tại Hội nghị. “Trong vòng 2 năm tới, đa số các công ty bất động sản sẽ bị phá sản”, ông Nam Sơn dự báo.
Điển hình của sự khốn khó là thị trường nhà ở. Các căn hộ cao cấp liên tục được các chủ đầu tư hạ giá nhưng vẫn không có người mua. Tình trạng này buộc nhiều chủ đầu tư phải trì hoãn các dự án đang thực hiện, như dự án Saigon Residences, Saigon One - M&C và New Pearl.
Và không chỉ thị trường nhà ở mà cả thị trường văn phòng cũng vô cùng ảm đạm. Trong 2 năm gần đây, nguồn cung mỗi năm tại thị trường văn phòng cho thuê Hà Nội luôn cao hơn mức 30%/năm. Ước tính đến năm 2014, nó sẽ đạt con số 2 triệu m2 và tỉ lệ diện tích trống sẽ hơn 40%, dù thị trường có hấp thụ tốt đến đâu đi nữa. Giá thuê văn phòng cũng giảm liên tục trong 11 quý gần đây.
Theo ông Marc Townsend, Tổng Giám đốc của CBRE Việt Nam, thị trường căn hộ sẽ khó hồi phục nhanh. “Chu kỳ lạm phát những năm gần đây cho thấy, độ trễ từ khi lạm phát và lãi suất giảm xuống còn dưới 10% cho đến khi thị trường căn hộ hồi phục là 6 tháng”, ông Townsend nói.
Bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Tổng Giám đốc Công ty Cơ điện REE, cho rằng bất cứ doanh nghiệp ở lĩnh vực nào nếu muốn làm bất động sản đều phải có hiểu biết về ngành này. Đất đai ở Việt Nam do được cấp theo cơ chế xin-cho nên doanh nghiệp nào “chạy” nhiều thì được nhiều. Tăng trưởng nóng cùng với tín dụng khá dễ dãi đã dẫn đến hậu quả như ngày hôm nay.
Hiện nay, các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam đã đứng trước những rủi ro lớn. Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu của các công ty bất động sản Việt Nam là 120%, so với mức trung bình 45% của doanh nghiệp cùng nghề trong khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, hệ số nợ/lợi nhuận trước thuế và lãi vay của một số doanh nghiệp ngành này đã ở mức 10 lần như các doanh nghiệp Phát Đạt, Sacomreal, Quốc Cường Gia Lai, Đầu tư Kinh Bắc.
Trong khi đó, rủi ro phá sản nếu thị trường diễn biến xấu với chỉ số này là khoảng 6 lần. Điều này cho thấy các doanh nghiệp lỡ dính vào bất động sản cần phải rút nhanh ra khỏi thị trường này.
Theo ông Nam Sơn, phải giảm giá bán thêm 50% nữa để bằng với mức giá chung của các nước châu Á. Nghiên cứu của ông ở thị trường Việt Nam cho thấy, giá bán căn hộ chỉ nên từ 60.000 - 100.000 USD/căn.
Chủ đầu tư cũng phải giảm chi phí xây dựng, trang thiết bị phải đẹp và phải giảm diện tích căn hộ. Nhìn sang thị trường Bangkok sẽ thấy hơn 90% số căn hộ mới xây đều có diện tích nhỏ hơn 50 m2.
Rất có thể 5 năm nữa thị trường bất động sản mới phục hồi và 2 năm tới là khoảng thời gian khó khăn nhất. Theo ông Townsend, để giải phóng hàng tồn, các chủ đầu tư cần phải bán tháo.
“Tại Bangkok có nhiều dự án phải treo với thời hạn lên đến 10 năm và các dự án của Việt Nam cũng có thể rơi vào hoàn cảnh tương tự. Tôi nghĩ rằng cách để chủ đầu tư bất động sản thoát nhanh khỏi các dự án là treo biển bán tháo và bán càng nhanh càng tốt”, ông nói.
Tuy nhiên, không phải dễ dàng để bán tháo. Rất nhiều chủ dự án ở Việt Nam vẫn còn nặng tâm lý “bán là thất bại” hay mất thể diện, nên chưa thực sự thoải mái khi tiếp xúc với các nhà đầu tư, các quỹ đầu tư hay các đơn vị môi giới.
Vì thế, cách cuối cùng để thoát khỏi thị trường hiện nay là không làm gì cả. “Hãy đi du lịch hoặc chơi golf. Thời gian này là không thuận lợi để kinh doanh bất động sản và chắc chắn lợi nhuận cũng không còn cao”, ông nói bông đùa.
Vốn ơi, khó quá!
Khi căn bệnh được đưa ra, phương thức nào sẽ chữa được bệnh? Ông Dominic Price, Tổng Giám đốc JP Morgan Việt Nam, khuyến nghị: trong bối cảnh thị trường chứng khoán còn non trẻ (quy mô giao dịch khoảng 25-30 triệu USD/ngày) cộng với việc hạn chế tăng trưởng tín dụng trong nước thời gian qua, huy động vốn quốc tế là một trong các giải pháp tích cực đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Biểu hiện tích cực đầu tiên có thể thấy là từ các thương vụ mua bán và sáp nhập năm ngoái với hơn 260 vụ, tổng giá trị gần 3,7 tỉ USD. Các ngành nhộn nhịp nhất là công nghiệp chế biến (chiếm tỉ lệ 24% năm 2011), hàng tiêu dùng nhanh (20%), nguyên vật liệu (16%), ngân hàng (15%) và bất động sản (8%).
Hai là, các doanh nghiệp trong nước có thể huy động vốn quốc tế thông qua phát hành riêng lẻ cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển đổi, vay vốn có bảo lãnh và không bảo lãnh hoặc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài.
Ông Trương Đình Tuyển, cũng đồng ý với giải pháp doanh nghiệp nên tìm vốn quốc tế. Nhưng cùng với ông Võ Trí Thành, ông dự báo sẽ có rất ít doanh nghiệp tìm được vốn theo cách này vì thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong nước chưa hình thành, việc phát hành trái phiếu ra quốc tế còn phụ thuộc vào uy tín quốc gia, thương hiệu doanh nghiệp. Vingroup chỉ là số ít các doanh nghiệp đã thành công khi phát hành trái phiếu tại Singapore.
Để xây dựng một thị trường trái phiếu trong nước thành công, theo ông Thành, cần phải kiên nhẫn và thực hiện từng bước, với thời gian từ 7-10 năm.
Đứng ở góc độ vĩ mô để phân tích vốn doanh nghiệp, ông Tuyển cho rằng, với thói quen xem vốn ngân hàng là chủ yếu thì các doanh nghiệp cần hiểu rằng tín dụng tiếp tục không đi ra được nền kinh tế, một phần là do nhu cầu giảm. Ngược lại, những doanh nghiệp có khả năng tiếp tục kinh doanh thì nợ xấu lớn nên chắc chắn cũng sẽ không tiếp cận được vốn.
“Những sự thay đổi rất thú vị...”
Ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương tỏ ra đầy ẩn ý khi được hỏi về nhận định nền kinh tế của Việt Nam trong năm 2013: “Hiện nay, Tôi không dám đoán gì cả nhưng tôi tin kinh tế Việt Nam tiếp tục chứng kiến những sự thay đổi rất thú vị, ít nhất là cho đến nửa đầu năm 2013”.
| Ông Võ Trí Thành, ông Trương Đình Tuyển, ông Trần Trọng Tú, ông Nguyễn Nam Sơn và ông Trần Kim Chung đang thảo luận tại Hội nghị TP.HCM. |
Những kết quả đáng thất vọng này xuất phát từ bối cảnh khó khăn chung ở trong và ngoài nước và cũng từ những chiến lược phát triển non kém của các doanh nghiệp Việt trong một thập kỷ trở lại đây. Câu chuyện này đã được mổ xẻ một cách khách quan tại Hội nghị đầu tư 2012 với tên gọi “Căn bệnh thập kỷ của doanh nghiệp Việt Nam” vừa được tổ chức tại cả TP.HCM lẫn Hà Nội.
Nô lệ của vốn ngân hàng
Bệnh đầu tiên được “thăm khám” là tình trạng lệ thuộc vốn ngân hàng của doanh nghiệp nội địa. Ông Võ Trí Thành tỏ ra e ngại về cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Theo ông, các doanh nghiệp nước ngoài thường sử dụng tới 30% lợi nhuận để tái đầu tư, còn doanh nghiệp Việt Nam thì con số này rất thấp; họ chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng.
| Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách công, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright |
Theo ông, tỉ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu qua cuộc khảo sát 647 doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán trong quý II/2012 (đã loại trừ các ngân hàng và các công ty tài chính) là 1,53, cao hơn rất nhiều so với các công ty niêm yết tại Mỹ và Trung Quốc, với tỉ lệ lần lượt là 1,2 và 1,06.
Tình trạng vay nợ quá nhiều này đã diễn ra rộn ràng ngay từ đầu những năm 2000. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính cao đã trở thành con dao hai lưỡi đối với các doanh nghiệp.
Một mặt, nó góp phần gia tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp nếu khoản đầu tư có hiệu quả nhưng cũng sẽ xói mòn lợi nhuận nếu kinh doanh đi xuống.
Đến khi Việt Nam đối mặt với khủng hoảng, mặt trái của đòn bẩy tài chính đã bộc lộ. Gánh nặng lãi vay, trong khi sản xuất đình đốn đã khiến một loạt các doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản, hình thành những xác chết lâm sàng, mà tiêu biểu gần đây là Công ty Thủy sản Bình An.
Theo thống kê của ông Xuân Thành, những ngành kinh doanh có tỉ lệ nợ/ vốn chủ sở hữu cao là xây dựng và bất động sản, năng lượng, nguyên vật liệu. Thấp nhất là ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Đây là minh chứng rõ nét cho chu kỳ kinh tế Việt Nam vừa qua gắn liền với cơn mê muội bất động sản.
Không chỉ khối tư nhân, các doanh nghiệp nhà nước cũng nợ đìa với tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu trung bình là 1,71 (theo Bộ Tài chính). Đáng chú ý là những tập đoàn, tổng công ty lớn lại là những doanh nghiệp có tỉ lệ nợ/vốn chủ sở hữu khá cao như tập đoàn điện lực Việt Nam (tỉ lệ: 4,26), Sông Đà (8,85), Tập đoàn HUD (6,36), Petrolimex (6,29), Vinalines (4,27).
Và như một tất yếu, để đáp ứng nhu cầu vốn quá lớn của các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng đã không ngừng bành trướng về cả số lượng lẫn quy mô. Tính đến cuối năm 2011, quy mô vốn điều lệ của khối ngân hàng Việt Nam đã tăng hơn 9 lần so với cuối năm 2004.
Tỉ lệ dư nợ tín dụng ngân hàng/GDP của Việt Nam trong các năm qua cũng tăng lên ở mức chóng mặt. Tỉ lệ này đã tăng từ mức thấp khoảng 40% vào những năm 2000 lên mức hơn 130% vào năm 2010; quá nhanh so với Philippines, Indonesia, Thái Lan và Malaysia.
Nguồn vốn dễ dãi cũng đã khuyến khích các doanh nghiệp nội địa đầu tư đa ngành vào những ngành nhiều rủi ro, nhạy cảm như bất động sản, chứng khoán và đã bị ảnh hưởng tiêu cực khi các lĩnh vực này đóng băng.
Và khi doanh nghiệp nguy khốn thì ngân hàng cũng lao đao. Dù trên báo cáo tài chính của nhiều ngân hàng, tỉ lệ nợ xấu vẫn không cao nhưng theo ông Xuân Thành, các khoản mục nợ xấu đã được ngân hàng che giấu và chuyển sang các hạng mục khác như khoản phải thu, tài sản khác và nợ khác, khiến cho các hạng mục này tăng lên rất nhanh (dựa trên so sánh báo cáo tài chính năm 2011 và 2010 của 37 ngân hàng).
Đa ngành tốt hay xấu?
| Ông Trần Kim Chung thảo luận tại Hội nghị |
Ông nói: “Hiện tượng đầu tư đa ngành diễn ra ở đa số các doanh nghiệp. Rất nhiều công ty lớn đầu tư vào ngân hàng, chứng khoán và bất động sản. Trong vòng 2 năm tới, theo tôi, có đến 90% công ty chứng khoán sẽ phải đóng cửa, chỉ có 5-7 công ty tồn tại lâu dài”.
Một ví dụ điển hình về hiệu quả hoạt động được ông Sơn đưa ra là hai công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) và Chứng khoán Sacombank (SBS), trực thuộc ngân hàng Sacombank.
Trong khi SSI tập trung vào các năng lực cốt lõi của mình là quản trị rủi ro, tự doanh, quản lý tài sản, dịch vụ ngân hàng đầu tư, đội ngũ nghiên cứu mạnh, môi giới cho khách hàng cá nhân lẫn tổ chức thì SBS lại làm ngược lại. Hệ quả là dù thị trường có khó khăn nhưng lợi nhuận của SSI không bị ảnh hưởng nhiều. Trong khi đó, SBS đã bị lỗ và công bố lỗ cả ngàn tỉ đồng kể từ cuối năm 2011.
Ví dụ thứ hai là công ty Kinh Đô và Vinamilk. Kinh Đô do đầu tư vào bất động sản thiếu hiệu quả nên sức phát triển đã bị giảm đáng kể trong những năm gần đây. Ước tính từ năm 2007 đến nay, Kinh Đô đã rót khoảng 13% tổng tài sản vào các dự án bất động sản.
Hiệu quả sử dụng vốn thể hiện qua chỉ số lợi nhuận/vốn (ROE) của Kinh Đô hiện chưa tới 10%, xấp xỉ mức của năm 2007. Trong khi đó, tính từ năm 2007 đến nay, chỉ số này của Vinamilk đã tăng gấp đôi, gần 40%.
Ông Nam Sơn cho rằng, sai lầm do đầu tư đa ngành bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là Hội đồng Quản trị và Ban điều hành hoạt động thiếu hiệu quả do thiếu kinh nghiệm và kiến thức, lạm quyền và chưa có tính độc lập khi ra các quyết định. Thứ hai là không vạch ra được chiến lược đầu tư và tài chính dài hạn, không am hiểu thị trường mình kinh doanh.
Một góc nhìn nhỏ để chứng minh cho luận điểm trên là khi ông Nam Sơn so sánh mô hình Hội đồng Quản trị tiêu biểu của Công ty Capital Land (Singapore) với đa số các công ty Việt Nam.
Dễ thấy là những người lãnh đạo Capital Land từ Chủ tịch cho tới Tổng Giám đốc đều hơn 60 tuổi. Họ hầu hết đều có bằng cấp trung bình là Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ kinh tế đồng thời có nhiều năm làm việc cho các tập đoàn toàn cầu như Shell, ngân hàng Goldman Sachs, Deutsche Bank.
Trong khi đó ở Việt Nam, hầu hết các thành viên lãnh đạo đều ở độ tuổi trung bình là 32, chưa có kinh nghiệm làm việc ở môi trường tài chính toàn cầu hoặc tốt nghiệp những ngành không liên quan đến tài chính và làm việc nhờ ưu thế người thân của lãnh đạo cấp cao.
Đó là chưa kể đến việc ban quản trị thiếu chiến lược tài chính và chiến lược thị trường dài hạn. “Không nhiều doanh nghiệp vạch ra kế hoạch kinh doanh dài hạn từ 5 năm đến 10 năm mà chỉ 1 năm”, ông Nam Sơn nhận xét.
| Ông Đỗ Minh Phú thảo luận tại Hội nghị |
Vì thế, ông cho biết khi bước vào lĩnh vực nào, ông cũng đều khá thận trọng. Ông Minh Phú chia sẻ rằng chưa bao giờ có ý định sẽ dùng tiền của ngân hàng Tiên Phong (một ngân hàng mà ông và em trai đã mua lại gần đây) để tài trợ cho các công ty con khác. Và với các công ty của mình, ông cũng không có ý định biến chúng thành công ty gia đình.
“Tôi không tán thành chuyện mua ngân hàng để dùng nó vào các mục đích đầu tư khác. Điều này vô cùng rủi ro về mặt pháp lý. Bên cạnh đó, nếu để tình trạng xảy ra sở hữu chéo giữa các công ty và ngân hàng, có thể chúng ta sẽ đối mặt với nhiều kết cục bi thảm”, ông Minh Phú nói.
Dù vậy, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Thương mại, vẫn cho rằng Việt Nam nên xem xét cách làm của Hàn Quốc. Đó là những ông chủ đã sở hữu ngân hàng không được phép sở hữu những doanh nghiệp khác.
Bất động sản sẽ chết trong vòng 2 năm tới
| Các diễn giả đang thảo luận tại Hội nghị Hà Nội |
Điển hình của sự khốn khó là thị trường nhà ở. Các căn hộ cao cấp liên tục được các chủ đầu tư hạ giá nhưng vẫn không có người mua. Tình trạng này buộc nhiều chủ đầu tư phải trì hoãn các dự án đang thực hiện, như dự án Saigon Residences, Saigon One - M&C và New Pearl.
Và không chỉ thị trường nhà ở mà cả thị trường văn phòng cũng vô cùng ảm đạm. Trong 2 năm gần đây, nguồn cung mỗi năm tại thị trường văn phòng cho thuê Hà Nội luôn cao hơn mức 30%/năm. Ước tính đến năm 2014, nó sẽ đạt con số 2 triệu m2 và tỉ lệ diện tích trống sẽ hơn 40%, dù thị trường có hấp thụ tốt đến đâu đi nữa. Giá thuê văn phòng cũng giảm liên tục trong 11 quý gần đây.
Theo ông Marc Townsend, Tổng Giám đốc của CBRE Việt Nam, thị trường căn hộ sẽ khó hồi phục nhanh. “Chu kỳ lạm phát những năm gần đây cho thấy, độ trễ từ khi lạm phát và lãi suất giảm xuống còn dưới 10% cho đến khi thị trường căn hộ hồi phục là 6 tháng”, ông Townsend nói.
Bà Nguyễn Thị Mai Thanh, Tổng Giám đốc Công ty Cơ điện REE, cho rằng bất cứ doanh nghiệp ở lĩnh vực nào nếu muốn làm bất động sản đều phải có hiểu biết về ngành này. Đất đai ở Việt Nam do được cấp theo cơ chế xin-cho nên doanh nghiệp nào “chạy” nhiều thì được nhiều. Tăng trưởng nóng cùng với tín dụng khá dễ dãi đã dẫn đến hậu quả như ngày hôm nay.
Hiện nay, các doanh nghiệp bất động sản Việt Nam đã đứng trước những rủi ro lớn. Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu của các công ty bất động sản Việt Nam là 120%, so với mức trung bình 45% của doanh nghiệp cùng nghề trong khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, hệ số nợ/lợi nhuận trước thuế và lãi vay của một số doanh nghiệp ngành này đã ở mức 10 lần như các doanh nghiệp Phát Đạt, Sacomreal, Quốc Cường Gia Lai, Đầu tư Kinh Bắc.
| Tỉ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu theo ngành kinh doanh |
Theo ông Nam Sơn, phải giảm giá bán thêm 50% nữa để bằng với mức giá chung của các nước châu Á. Nghiên cứu của ông ở thị trường Việt Nam cho thấy, giá bán căn hộ chỉ nên từ 60.000 - 100.000 USD/căn.
Chủ đầu tư cũng phải giảm chi phí xây dựng, trang thiết bị phải đẹp và phải giảm diện tích căn hộ. Nhìn sang thị trường Bangkok sẽ thấy hơn 90% số căn hộ mới xây đều có diện tích nhỏ hơn 50 m2.
Rất có thể 5 năm nữa thị trường bất động sản mới phục hồi và 2 năm tới là khoảng thời gian khó khăn nhất. Theo ông Townsend, để giải phóng hàng tồn, các chủ đầu tư cần phải bán tháo.
“Tại Bangkok có nhiều dự án phải treo với thời hạn lên đến 10 năm và các dự án của Việt Nam cũng có thể rơi vào hoàn cảnh tương tự. Tôi nghĩ rằng cách để chủ đầu tư bất động sản thoát nhanh khỏi các dự án là treo biển bán tháo và bán càng nhanh càng tốt”, ông nói.
Tuy nhiên, không phải dễ dàng để bán tháo. Rất nhiều chủ dự án ở Việt Nam vẫn còn nặng tâm lý “bán là thất bại” hay mất thể diện, nên chưa thực sự thoải mái khi tiếp xúc với các nhà đầu tư, các quỹ đầu tư hay các đơn vị môi giới.
Vì thế, cách cuối cùng để thoát khỏi thị trường hiện nay là không làm gì cả. “Hãy đi du lịch hoặc chơi golf. Thời gian này là không thuận lợi để kinh doanh bất động sản và chắc chắn lợi nhuận cũng không còn cao”, ông nói bông đùa.
Vốn ơi, khó quá!
Khi căn bệnh được đưa ra, phương thức nào sẽ chữa được bệnh? Ông Dominic Price, Tổng Giám đốc JP Morgan Việt Nam, khuyến nghị: trong bối cảnh thị trường chứng khoán còn non trẻ (quy mô giao dịch khoảng 25-30 triệu USD/ngày) cộng với việc hạn chế tăng trưởng tín dụng trong nước thời gian qua, huy động vốn quốc tế là một trong các giải pháp tích cực đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Biểu hiện tích cực đầu tiên có thể thấy là từ các thương vụ mua bán và sáp nhập năm ngoái với hơn 260 vụ, tổng giá trị gần 3,7 tỉ USD. Các ngành nhộn nhịp nhất là công nghiệp chế biến (chiếm tỉ lệ 24% năm 2011), hàng tiêu dùng nhanh (20%), nguyên vật liệu (16%), ngân hàng (15%) và bất động sản (8%).
Hai là, các doanh nghiệp trong nước có thể huy động vốn quốc tế thông qua phát hành riêng lẻ cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển đổi, vay vốn có bảo lãnh và không bảo lãnh hoặc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài.
| Tỉ lệ nợ phải trả của doanh nghiệp nhà nước |
Để xây dựng một thị trường trái phiếu trong nước thành công, theo ông Thành, cần phải kiên nhẫn và thực hiện từng bước, với thời gian từ 7-10 năm.
Đứng ở góc độ vĩ mô để phân tích vốn doanh nghiệp, ông Tuyển cho rằng, với thói quen xem vốn ngân hàng là chủ yếu thì các doanh nghiệp cần hiểu rằng tín dụng tiếp tục không đi ra được nền kinh tế, một phần là do nhu cầu giảm. Ngược lại, những doanh nghiệp có khả năng tiếp tục kinh doanh thì nợ xấu lớn nên chắc chắn cũng sẽ không tiếp cận được vốn.
Nguồn: Nhịp Cầu Đầu Tư
Monday, September 3, 2012
Rùng mình công nghệ sản xuất giấy ăn
Giấy phế liệu, rác thải, thậm chí cả giấy vệ sinh đã qua sử dụng nhờ "công nghệ" đã trở thành nhiều loại giấy ăn, giấy vệ sinh trắng bóc, nức mùi thơm.
Về xã Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh để "mắt thấy tai nghe" công nghệ chế biến các sản phẩm giấy ăn, giấy vệ sinh từ hạng bình dân cho đến hạng sang để cung cấp cho thị trường sẽ không ít người tiêu dùng phải rùng mình, sởn gai ốc. Cả làng như một "bãi rác" khổng lồ, khắp các ngả đường luôn nồng nặc mùi tạp chất do các xưởng sản xuất giấy thải ra.
Ông Nguyễn Văn Thụ, cán bộ địa chính - xây dựng xã Phong Khê cho biết toàn xã Phong Khê từ xí nghiệp tư nhân cho tới doanh nghiệp, hợp tác xã cổ phần, công ty... có tất cả khoảng 200 đơn vị sản xuất giấy trong đó có 50% đơn vị sản xuất giấy ăn, giấy vệ sinh, mỗi xí nghiệp đạt công suất trung bình từ 5 - 7 tấn/ngày. Các đơn vị sản xuất đều có giấy phép kinh doanh nhưng tùy theo quy mô sản xuất thì có thể phân loại thành các xí nghiệp tập trung và các hộ sản xuất cá thể nhỏ lẻ.
Qua sự giới thiệu của người dân địa phương, chúng tôi tới khu công nghiệp sản xuất giấy tập trung của toàn xã được hình thành từ năm 2003. Qua con đường lầy lội, nước tù đọng đen ngòm, chúng tôi tới xí nghiệp sản xuất giấy của gia đình anh Ngô Văn Phương. Khu xưởng bao bọc bởi những đống giấy phế thải cao ngất, không gian đặc quánh 1 thứ mùi chua nồng khó chịu, ầm ầm tiếng máy xay, ép giấy, hơi nước bốc mù mịt. Bên cạnh là những thành phẩm giấy ăn, giấy vệ sinh thơm nức được xếp ngay ngắn. Khoảng cách giữa chúng chỉ là một dây chuyền chế biến giấy đơn giản và tiềm ẩn sự ô nhiễm nghiêm trọng.
Khâu đầu tiên - nghiền giấy là khâu quyết định đến chất lượng của sản phẩm. Nguyên liệu đưa vào sản xuất là những đống "rác phế liệu" giấy, những cuộn giấy vệ sinh bỏ đi, sách báo lem nhem được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau, thậm chí được thu gom từ những bãi rác thải.
Công nhân chân đất giẫm đạp lên đống giấy nguyên liệu nhàu nát. Những bể ngâm giấy mủn rò rỉ thứ nước thải nhớp nháp trên nền đất. Máy xay nguyên liệu rỉ sắt đóng cục nổi lên thành từng mảng. Hệ thống nước thải chưa kịp hoàn thiện nước đặc khịt, rác nổi lềnh phềnh.
Tại Phong Khê, một số lượng lớn hộ gia công nhỏ lẻ sản xuất giấy ăn cung cấp đi khắp các tỉnh thành trong cả nước, bán rộng rãi trên thị trường. Từ giấy ăn "thường dân" nhất như "giấy phở" (loại giấy ăn thô ráp, màu trắng đục, hình vuông vẫn thường dùng tại các quán cóc ven đường, quán cơm vỉa hè,...) đến các loại giấy ăn cao cấp đều được "chế biến" bằng công nghệ... nồng nặc như trên. Đúng như những lời nói đùa của những người làm ở các cơ sở sản xuất giấy ăn: "Giấy không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi. Nó chỉ chuyển từ giấy phế liệu, thậm chí rác thải thành giấy ăn và vô vàn sản phẩm hiện đại khác".
Về xã Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh để "mắt thấy tai nghe" công nghệ chế biến các sản phẩm giấy ăn, giấy vệ sinh từ hạng bình dân cho đến hạng sang để cung cấp cho thị trường sẽ không ít người tiêu dùng phải rùng mình, sởn gai ốc. Cả làng như một "bãi rác" khổng lồ, khắp các ngả đường luôn nồng nặc mùi tạp chất do các xưởng sản xuất giấy thải ra.
Ông Nguyễn Văn Thụ, cán bộ địa chính - xây dựng xã Phong Khê cho biết toàn xã Phong Khê từ xí nghiệp tư nhân cho tới doanh nghiệp, hợp tác xã cổ phần, công ty... có tất cả khoảng 200 đơn vị sản xuất giấy trong đó có 50% đơn vị sản xuất giấy ăn, giấy vệ sinh, mỗi xí nghiệp đạt công suất trung bình từ 5 - 7 tấn/ngày. Các đơn vị sản xuất đều có giấy phép kinh doanh nhưng tùy theo quy mô sản xuất thì có thể phân loại thành các xí nghiệp tập trung và các hộ sản xuất cá thể nhỏ lẻ.
Qua sự giới thiệu của người dân địa phương, chúng tôi tới khu công nghiệp sản xuất giấy tập trung của toàn xã được hình thành từ năm 2003. Qua con đường lầy lội, nước tù đọng đen ngòm, chúng tôi tới xí nghiệp sản xuất giấy của gia đình anh Ngô Văn Phương. Khu xưởng bao bọc bởi những đống giấy phế thải cao ngất, không gian đặc quánh 1 thứ mùi chua nồng khó chịu, ầm ầm tiếng máy xay, ép giấy, hơi nước bốc mù mịt. Bên cạnh là những thành phẩm giấy ăn, giấy vệ sinh thơm nức được xếp ngay ngắn. Khoảng cách giữa chúng chỉ là một dây chuyền chế biến giấy đơn giản và tiềm ẩn sự ô nhiễm nghiêm trọng.
Toàn cảnh của một xưởng sản xuất giấy ăn (đang hoạt động)
Khâu đầu tiên - nghiền giấy là khâu quyết định đến chất lượng của sản phẩm. Nguyên liệu đưa vào sản xuất là những đống "rác phế liệu" giấy, những cuộn giấy vệ sinh bỏ đi, sách báo lem nhem được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau, thậm chí được thu gom từ những bãi rác thải.
Nguyên liệu đưa vào sản xuất là "rác phế liệu" trong đó có cả giấy được thu gom từ bãi rác
Công nhân chân đất giẫm đạp lên đống giấy nguyên liệu nhàu nát. Những bể ngâm giấy mủn rò rỉ thứ nước thải nhớp nháp trên nền đất. Máy xay nguyên liệu rỉ sắt đóng cục nổi lên thành từng mảng. Hệ thống nước thải chưa kịp hoàn thiện nước đặc khịt, rác nổi lềnh phềnh.
Công nhân giẫm đạp lên giấy nguyên liệu trong khi bốc giấy vào máy nghiền
Thiết bị máy móc hoen gỉ
Bể ngâm giấy bốc mùi hôi thối nồng nặc
Một công đoạn để chuẩn bị tẩy Javen
Khi chúng tôi hỏi "cơ sở sản xuất của anh có sử dụng chất tẩy trắng không", anh Phương đã vội vã xua tay, trả lời thẳng thừng "không có". Thế nhưng, vừa ra tới ngoài sân, tôi có hỏi một nhân viên đang làm việc, anh thật thà nói: "Chắc chắn là phải có rồi. Em nhìn xem, giấy nhập vào thì ô hợp thế kia, còn giấy thành phẩm thì trắng tinh thế này". Anh nhân viên này tiết lộ, các chất tẩy trắng được cho ngay vào công đoạn đầu tiên để ngâm giấy chủ yếu là nước Javen và một vài loại hóa chất làm dai giấy đặc biệt.
Các thùng hóa chất gồm thuốc tẩy Javen, chất làm dai giấy vứt ngổn ngang trong xưởng
Một khe hở của bể ngâm giấy khiến nước chảy lênh láng và nhầy nhụa
Công đoạn tẩy trắng cho giấy ăn
Giấy đổi màu trắng sau khi dùng hóa chất
Chiếc máy ép bột giấy thành những cuộn lớn trước khi cho ra thành phẩm nằm ngay bên cạnh đống giấy nguyên liệu bẩn
Hoàn tất công đoạn đóng gói trước khi cung cấp ra thị trường
Tại Phong Khê, một số lượng lớn hộ gia công nhỏ lẻ sản xuất giấy ăn cung cấp đi khắp các tỉnh thành trong cả nước, bán rộng rãi trên thị trường. Từ giấy ăn "thường dân" nhất như "giấy phở" (loại giấy ăn thô ráp, màu trắng đục, hình vuông vẫn thường dùng tại các quán cóc ven đường, quán cơm vỉa hè,...) đến các loại giấy ăn cao cấp đều được "chế biến" bằng công nghệ... nồng nặc như trên. Đúng như những lời nói đùa của những người làm ở các cơ sở sản xuất giấy ăn: "Giấy không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi. Nó chỉ chuyển từ giấy phế liệu, thậm chí rác thải thành giấy ăn và vô vàn sản phẩm hiện đại khác".
Nguồn: Vef
5 bài học lãnh đạo trường kinh doanh không dạy bạn
Hãy quên những ảo tưởng, đam mê và mớ lý thuyết tẻ ngắt của các trường kinh doanh đi. Dưới đây là những chi tiết thiết thực bạn không thể bỏ qua nếu muốn trở thành nhà lãnh đạo vĩ đại.
Đầu tiên, ngài giáo sư nói về tầm quan trọng của việc truyền cảm hứng. Rồi ông nói về sức mạnh của niềm đam mê. Tiếp theo ông thảo luận về giá trị của tầm nhìn.
Rồi tôi gần như thiếp đi.
Tôi đang ngồi trong lớp dự một bài giảng về các đặc điểm của một nhà lãnh đạo vĩ đại do một vị giáo sư trình bày. Tất nhiên là tôi không đồng tình với danh sách mà giáo sư đưa ra: tầm nhìn, đam mê, truyền cảm hứng, tinh thần cống hiến, công bằng và đáng tin cậy. Đó là những phẩm chất quan trọng của một nhà lãnh đạo vĩ đại. Nhưng tôi nhận ra rằng mình chỉ thu được rất ít từ những gì giáo sư nói. Những gì nhàm chán thì rất khó ghi nhớ để đưa vào thực tiễn cuộc sống.
Sau cùng, tôi thấy "Truyền cảm hứng cho đội nhóm của bạn" là một lời khuyên hay, nhưng làm thế nào để bạn làm được điều này?
Vì thế, khi bỏ đi, tôi nhận ra rằng hầu hết những gì tôi biết về nghệ thuật lãnh đạo đều không phải được học từ các trường kinh doanh, các hội thảo hay tọa đàm.
Tôi đã học được những bài học lãnh đạo hay nhất của mình theo cách rất khó khăn:
1. Số liệu tới rồi đi nhưng cảm xúc thì sẽ tồn tại mãi mãi.
Các dữ kiện và số liệu rất quan trọng. Những lời diễn giải tính logic và lập luận đằng sau một quyết định có thể giúp người khác tiếp nhận và cam kết thực hiện. Các biểu đồ, đồ thị, biểu bảnh, kết quả… thì rất hữu dụng nhưng rất nhanh chóng bị lãng quên.
Nếu bạn làm cho một nhân viên cảm thấy anh ta thật ngu ngốc hoặc làm anh ta bị xấu hổ trước mặt những người khác, anh ta sẽ không bao giờ quên.
Có một nhân viên đưa ra một lời bình luận trong một cuộc họp, theo bản năng tôi đã buông một lời chế giễu. (Suốt một thời gian dài, tôi luôn là người thích châm biếm bởi tôi nghĩ rằng đó là những câu đùa dí dỏm, tế nhị.). Mọi người đều cười, riêng anh nhân viên kia thì không.
Và mối quan hệ công việc giữa chúng tôi đã thay đổi mãi mãi. Tôi xin lỗi ngay tại chỗ và sau đó lại xin lỗi nhưng thiệt hại đã xảy ra rồi.
Nếu bạn nghĩ về dữ liệu và tính logic một thì hãy nghĩ hai lần về cảm nhận của nhân viên. Sửa chữa lỗi dữ liệu thì dễ nhưng bạn không thể khắc phục những tổn thương về lòng tự trọng mà bạn (vô tình hay cố ý) gây ra cho nhân viên.
2. Những ý tưởng hay không bao giờ xuất hiện trong các bài thuyết trình.
Các bài thuyết trình là một cách hay để chia sẻ thông tin chi tiết và phức tạp. Nhưng nếu muốn chia sẻ những ý tưởng lớn thì bạn không nên sử dụng hình thức thuyết trình.
Những ý tưởng hay thường chỉ gói gọn trong một hay hai câu. Các nhân viên của bạn đều có những ý tưởng này.
Tất cả những gì bạn cần làm là lắng nghe. Và các nhân viên của bạn sẽ yêu quý bạn vì bạn đã lắng nghe, vì tôi đảm bảo với bạn rằng các sếp cũ của họ chưa từng làm như vậy bao giờ.
3. “Quy trách nhiệm cho những người xung phong” sẽ giết chết dòng ý tưởng.
Những nhân viên giỏi nhất của bạn có xu hướng tạo ra những ý tưởng hay. Một điều rất tự nhiên là bạn sẽ giao trách nhiệm thực hiện ý tưởng cho người đã nghĩ ra nó. Thêm nữa, nếu người đó là một nhân viên giỏi, sẽ là điều tự nhiên nếu bạn muốn họ nhận trách nhiệm vì có nhiều khả năng họ sẽ hoàn thành ý tưởng đó hơn những người khác.
Tất nhiên, những nhân viên giỏi nhất của bạn có thể đang phải làm việc rất vất vả, nên nếu lúc nào bạn cũng giao thêm trách nhiệm cho họ mỗi khi họ có một gợi ý nào đó thì dòng ý tưởng của họ sẽ bị ngưng lại.
Khi một nhân viên giỏi giải thích với tôi rằng: “Cuối cùng tôi nhận ra rằng tôi nên ngừng ngay các đề xuất với ông vì cứ mỗi khi tôi làm như vậy, ông lại giao thêm việc cho tôi” tôi mới vỡ lẽ ra điều này.
Đôi lúc nhân viên sẽ sẵn sàng nhận trách nhiệm thực hiện ý tưởng của họ. Nhưng cũng có lúc họ không sẵn lòng.
Muốn biết nhân viên sẽ phản ứng ra sao? Bạn hãy hỏi chính họ.
4. Chỉ chia sẻ những điều tích cực sẽ dẫn tới sự tiêu cực.
Hãy thử tưởng tượng bạn đang chia sẻ cơ sở lý luận đằng sau một quyết định với nhóm của bạn. Bạn mô tả những kết quả tích cực của quyết định nàymột cách phấn khích.
Trong khi đó các nhân viên chỉ tìm kiếm những thứ tiêu cực, mọi triển vọng kinh doanh xán lạn đã bị phủ một đám mây đen vì một vài nhân viên. Một lần tôi đã mô tả những thay đổi trong việc thu gom bụi giấy sẽ cải thiện chất lượng không khí trong nhà máy ra sao, nhưng tôi không thấy được một thực tế là có một vài nhân viên cảm thấy họ phải dành một vài giờ trong ngày ngụp lặn trong một môi trường giống như một chiếc bồn tắm chứa đầy bột mỳ.
Đừng bao giờ bỏ qua những mặt hạn chế, ngay cả khi những hạn chế đó chỉ mới ở mức tiềm tàng. Hãy trao đổi cởi mở về mặt trái khi những mặt trái đó ảnh hưởng trực tiếp đến các nhân viên. Hãy thể hiện rằng mình hiểu những điều tốt nhất và cả những cái dở nhất có thể xảy ra và điều đó có ý nghĩa thế nào đối với nhóm của bạn.
Khi bạn trao đổi cởi mở về những mặt tiêu cực có thể có, các nhân viên không chỉ tôn trọng bạn hơn mà còn làm việc chăm chỉ hơn để những điều tiêu cực kia không xảy ra.
5. Số liệu chính xác nhưng con người cũng đúng.
Bạn thông minh. Bạn tài giỏi. Bạn có học thức. Việc phân tích số liệu là người bạn thân nhất của bạn. Đôi khi số liệu của bạn sẽ dẫn tới những kết luận không thể tránh được thế nhưng bạn vẫn đưa ra một kết luận hoàn toàn khác.
Một lần tôi đã chuyển hai nhóm gồm khoảng 30 người sang ca làm việc trái hẳn nhau vì tôi nghĩ rằng hiệu quả làm việc sẽ theo đó tự động tăng thêm 10%. Tôi cũng biết (vì nhân viên nói với tôi) rằng nhân viên không thích giờ giấc làm việc mới này, nhưng tôi vẫn giữ nguyên ý kiến, vì tôi nghĩ nhà lãnh đạo giỏi phải sẵn sàng đưa ra những quyết định khó khăn và thực hiện nó bất chấp lý do gì để đạt được kết quả.
Hóa ra tôi đã sai.
Chắc chắn việc thay đổi ca làm việc của tôi phát huy hiệu quả trên giấy. Và có khi trong thực tiễn nó cũng phát huy hiệu quả. Nhưng nó lại làm đảo lộn cuộc sống gia đình của nhiều nhân viên giỏi, khi hiểu ra tôi đã điều chỉnh lại giờ làm việc như cũ. Chúng tôi đã tìm ra cách khác để nâng cao năng suất lao động.
Đôi khi một quyết định đưa ra không chỉ dựa trên sự phân tích, tính logic và lý lẽ. Không có quyết định nào do máy móc tạo ra cả bởi vì quyết định là do con người thực hiện.
Nhà lãnh đạo phải dựa vào số liệu nhưng nhà lãnh đạo giỏi thường chủ quan và thậm chí hơi lộn xộn.
Nếu nhân viên không đồng ý với bạn, hãy hỏi lý do tại sao nhưng đừng hỏi chỉ để bảo tồn vai trò của mình, hãy hỏi để học.
Bạn biết những điều nhân viên của bạn không biết và họ biết những điều mà bạn không biết nếu không lắng nghe những điều họ nói.
Đầu tiên, ngài giáo sư nói về tầm quan trọng của việc truyền cảm hứng. Rồi ông nói về sức mạnh của niềm đam mê. Tiếp theo ông thảo luận về giá trị của tầm nhìn.
Rồi tôi gần như thiếp đi.
Tôi đang ngồi trong lớp dự một bài giảng về các đặc điểm của một nhà lãnh đạo vĩ đại do một vị giáo sư trình bày. Tất nhiên là tôi không đồng tình với danh sách mà giáo sư đưa ra: tầm nhìn, đam mê, truyền cảm hứng, tinh thần cống hiến, công bằng và đáng tin cậy. Đó là những phẩm chất quan trọng của một nhà lãnh đạo vĩ đại. Nhưng tôi nhận ra rằng mình chỉ thu được rất ít từ những gì giáo sư nói. Những gì nhàm chán thì rất khó ghi nhớ để đưa vào thực tiễn cuộc sống.
Sau cùng, tôi thấy "Truyền cảm hứng cho đội nhóm của bạn" là một lời khuyên hay, nhưng làm thế nào để bạn làm được điều này?
Vì thế, khi bỏ đi, tôi nhận ra rằng hầu hết những gì tôi biết về nghệ thuật lãnh đạo đều không phải được học từ các trường kinh doanh, các hội thảo hay tọa đàm.
Tôi đã học được những bài học lãnh đạo hay nhất của mình theo cách rất khó khăn:
1. Số liệu tới rồi đi nhưng cảm xúc thì sẽ tồn tại mãi mãi.
Các dữ kiện và số liệu rất quan trọng. Những lời diễn giải tính logic và lập luận đằng sau một quyết định có thể giúp người khác tiếp nhận và cam kết thực hiện. Các biểu đồ, đồ thị, biểu bảnh, kết quả… thì rất hữu dụng nhưng rất nhanh chóng bị lãng quên.
Nếu bạn làm cho một nhân viên cảm thấy anh ta thật ngu ngốc hoặc làm anh ta bị xấu hổ trước mặt những người khác, anh ta sẽ không bao giờ quên.
Có một nhân viên đưa ra một lời bình luận trong một cuộc họp, theo bản năng tôi đã buông một lời chế giễu. (Suốt một thời gian dài, tôi luôn là người thích châm biếm bởi tôi nghĩ rằng đó là những câu đùa dí dỏm, tế nhị.). Mọi người đều cười, riêng anh nhân viên kia thì không.
Và mối quan hệ công việc giữa chúng tôi đã thay đổi mãi mãi. Tôi xin lỗi ngay tại chỗ và sau đó lại xin lỗi nhưng thiệt hại đã xảy ra rồi.
Nếu bạn nghĩ về dữ liệu và tính logic một thì hãy nghĩ hai lần về cảm nhận của nhân viên. Sửa chữa lỗi dữ liệu thì dễ nhưng bạn không thể khắc phục những tổn thương về lòng tự trọng mà bạn (vô tình hay cố ý) gây ra cho nhân viên.
2. Những ý tưởng hay không bao giờ xuất hiện trong các bài thuyết trình.
Các bài thuyết trình là một cách hay để chia sẻ thông tin chi tiết và phức tạp. Nhưng nếu muốn chia sẻ những ý tưởng lớn thì bạn không nên sử dụng hình thức thuyết trình.
Những ý tưởng hay thường chỉ gói gọn trong một hay hai câu. Các nhân viên của bạn đều có những ý tưởng này.
Tất cả những gì bạn cần làm là lắng nghe. Và các nhân viên của bạn sẽ yêu quý bạn vì bạn đã lắng nghe, vì tôi đảm bảo với bạn rằng các sếp cũ của họ chưa từng làm như vậy bao giờ.
3. “Quy trách nhiệm cho những người xung phong” sẽ giết chết dòng ý tưởng.
Những nhân viên giỏi nhất của bạn có xu hướng tạo ra những ý tưởng hay. Một điều rất tự nhiên là bạn sẽ giao trách nhiệm thực hiện ý tưởng cho người đã nghĩ ra nó. Thêm nữa, nếu người đó là một nhân viên giỏi, sẽ là điều tự nhiên nếu bạn muốn họ nhận trách nhiệm vì có nhiều khả năng họ sẽ hoàn thành ý tưởng đó hơn những người khác.
Tất nhiên, những nhân viên giỏi nhất của bạn có thể đang phải làm việc rất vất vả, nên nếu lúc nào bạn cũng giao thêm trách nhiệm cho họ mỗi khi họ có một gợi ý nào đó thì dòng ý tưởng của họ sẽ bị ngưng lại.
Khi một nhân viên giỏi giải thích với tôi rằng: “Cuối cùng tôi nhận ra rằng tôi nên ngừng ngay các đề xuất với ông vì cứ mỗi khi tôi làm như vậy, ông lại giao thêm việc cho tôi” tôi mới vỡ lẽ ra điều này.
Đôi lúc nhân viên sẽ sẵn sàng nhận trách nhiệm thực hiện ý tưởng của họ. Nhưng cũng có lúc họ không sẵn lòng.
Muốn biết nhân viên sẽ phản ứng ra sao? Bạn hãy hỏi chính họ.
4. Chỉ chia sẻ những điều tích cực sẽ dẫn tới sự tiêu cực.
Hãy thử tưởng tượng bạn đang chia sẻ cơ sở lý luận đằng sau một quyết định với nhóm của bạn. Bạn mô tả những kết quả tích cực của quyết định nàymột cách phấn khích.
Trong khi đó các nhân viên chỉ tìm kiếm những thứ tiêu cực, mọi triển vọng kinh doanh xán lạn đã bị phủ một đám mây đen vì một vài nhân viên. Một lần tôi đã mô tả những thay đổi trong việc thu gom bụi giấy sẽ cải thiện chất lượng không khí trong nhà máy ra sao, nhưng tôi không thấy được một thực tế là có một vài nhân viên cảm thấy họ phải dành một vài giờ trong ngày ngụp lặn trong một môi trường giống như một chiếc bồn tắm chứa đầy bột mỳ.
Đừng bao giờ bỏ qua những mặt hạn chế, ngay cả khi những hạn chế đó chỉ mới ở mức tiềm tàng. Hãy trao đổi cởi mở về mặt trái khi những mặt trái đó ảnh hưởng trực tiếp đến các nhân viên. Hãy thể hiện rằng mình hiểu những điều tốt nhất và cả những cái dở nhất có thể xảy ra và điều đó có ý nghĩa thế nào đối với nhóm của bạn.
Khi bạn trao đổi cởi mở về những mặt tiêu cực có thể có, các nhân viên không chỉ tôn trọng bạn hơn mà còn làm việc chăm chỉ hơn để những điều tiêu cực kia không xảy ra.
5. Số liệu chính xác nhưng con người cũng đúng.
Bạn thông minh. Bạn tài giỏi. Bạn có học thức. Việc phân tích số liệu là người bạn thân nhất của bạn. Đôi khi số liệu của bạn sẽ dẫn tới những kết luận không thể tránh được thế nhưng bạn vẫn đưa ra một kết luận hoàn toàn khác.
Một lần tôi đã chuyển hai nhóm gồm khoảng 30 người sang ca làm việc trái hẳn nhau vì tôi nghĩ rằng hiệu quả làm việc sẽ theo đó tự động tăng thêm 10%. Tôi cũng biết (vì nhân viên nói với tôi) rằng nhân viên không thích giờ giấc làm việc mới này, nhưng tôi vẫn giữ nguyên ý kiến, vì tôi nghĩ nhà lãnh đạo giỏi phải sẵn sàng đưa ra những quyết định khó khăn và thực hiện nó bất chấp lý do gì để đạt được kết quả.
Hóa ra tôi đã sai.
Chắc chắn việc thay đổi ca làm việc của tôi phát huy hiệu quả trên giấy. Và có khi trong thực tiễn nó cũng phát huy hiệu quả. Nhưng nó lại làm đảo lộn cuộc sống gia đình của nhiều nhân viên giỏi, khi hiểu ra tôi đã điều chỉnh lại giờ làm việc như cũ. Chúng tôi đã tìm ra cách khác để nâng cao năng suất lao động.
Đôi khi một quyết định đưa ra không chỉ dựa trên sự phân tích, tính logic và lý lẽ. Không có quyết định nào do máy móc tạo ra cả bởi vì quyết định là do con người thực hiện.
Nhà lãnh đạo phải dựa vào số liệu nhưng nhà lãnh đạo giỏi thường chủ quan và thậm chí hơi lộn xộn.
Nếu nhân viên không đồng ý với bạn, hãy hỏi lý do tại sao nhưng đừng hỏi chỉ để bảo tồn vai trò của mình, hãy hỏi để học.
Bạn biết những điều nhân viên của bạn không biết và họ biết những điều mà bạn không biết nếu không lắng nghe những điều họ nói.
Tản mạn cuối tuần và ưu tư của Tám Sài Gòn
Lương bổng thì eo hẹp, mà giá cả cứ leo thang vùn vụt, cho nên dạo này bà xã Tám Sài Gòn thực hành chính sách thắt lưng buộc bụng, tiết kiệm triệt để mọi chi tiêu.
Mấy bữa rày, chất lượng bữa cơm dường như cũng hơi “teo” lại, thì thôi cũng đành đi, nhưng cái khổ cho Tám tui là mấy bữa rày phải giảm bớt thuốc lá và cà phê, cho nên cứ hay ngáp dài. Thấy vậy, bà xã lại gần, ngập ngừng nói như thanh minh:
- Tại xăng lên giá cho nên giá cả mọi thứ tăng theo...
Thấy tội bà xã quá, Tám tui vội trấn an:
- Biết rồi! Tui có trách móc gì bà đâu. Mà xăng tăng giá, thật ra cũng chẳng phải do mấy ông buôn xăng muốn tăng lợi nhuận rồi bắt dân gánh chịu, mà một phần vì nó đang phải “cõng” quá nhiều khoản.
Nào 12% thuế nhập khẩu, 10% thuế VAT, nào 1.000 đồng phí xăng dầu (còn gọi là phí giao thông), rồi cả 1.000 đồng trích trả nợ tiền bù giá ngân sách, 200 đồng trích quỹ bình ổn nữa chứ.
Chưa hết, mặt hàng xăng còn bị đánh thêm 10% thuế tiêu thụ đặc biệt. Như vậy, trung bình mỗi lít xăng đang phải gánh đến 6.500 đồng tiền thuế, phí, tương đương gần 40% giá bán.
Điều vô lý ở đây là xăng bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt giống như các mặt hàng không khuyến khích sử dụng, hàng xa xỉ như rượu bia, thuốc lá... Trong khi đó, xăng là loại nhiên liệu thiết yếu phục vụ cho nhu cầu lưu thông, sản xuất, được sử dụng đại trà.
Và quan trọng nhất, sự biến động của giá xăng sẽ tác động dây chuyền đến giá vận tải, giá cả hàng hóa, ảnh hưởng đến sản xuất kinh tế và đời sống xã hội.
Bà xã nhìn Tám tui với ánh mắt cảm thông, gật đầu chia sẻ. Im lặng một hồi, bả rỉ rả:
- Nhưng mà, nói tiết kiệm là nói cho oai vậy thôi, chứ trước nay nhà mình có hoang phí bao giờ đâu mà tiết kiệm. Mình đâu có mua bán hay tiêu xài cho thứ gì không cần cho sinh hoạt thường ngày đâu. Mình đang giảm chi tiêu bằng cách “nhín” bớt nhu cầu đó ông ạ, ông thông cảm cho tui nha.
- Tôi biết rồi, bà khỏi giải thích! - Tám tui chấm dứt câu chuyện bằng giọng không vui, xong lại thấy vừa thương bà xã, vừa trách mình lực bất tòng tâm…
Mấy bữa rày, chất lượng bữa cơm dường như cũng hơi “teo” lại, thì thôi cũng đành đi, nhưng cái khổ cho Tám tui là mấy bữa rày phải giảm bớt thuốc lá và cà phê, cho nên cứ hay ngáp dài. Thấy vậy, bà xã lại gần, ngập ngừng nói như thanh minh:
- Tại xăng lên giá cho nên giá cả mọi thứ tăng theo...
Thấy tội bà xã quá, Tám tui vội trấn an:
- Biết rồi! Tui có trách móc gì bà đâu. Mà xăng tăng giá, thật ra cũng chẳng phải do mấy ông buôn xăng muốn tăng lợi nhuận rồi bắt dân gánh chịu, mà một phần vì nó đang phải “cõng” quá nhiều khoản.
Nào 12% thuế nhập khẩu, 10% thuế VAT, nào 1.000 đồng phí xăng dầu (còn gọi là phí giao thông), rồi cả 1.000 đồng trích trả nợ tiền bù giá ngân sách, 200 đồng trích quỹ bình ổn nữa chứ.
Chưa hết, mặt hàng xăng còn bị đánh thêm 10% thuế tiêu thụ đặc biệt. Như vậy, trung bình mỗi lít xăng đang phải gánh đến 6.500 đồng tiền thuế, phí, tương đương gần 40% giá bán.
Điều vô lý ở đây là xăng bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt giống như các mặt hàng không khuyến khích sử dụng, hàng xa xỉ như rượu bia, thuốc lá... Trong khi đó, xăng là loại nhiên liệu thiết yếu phục vụ cho nhu cầu lưu thông, sản xuất, được sử dụng đại trà.
Và quan trọng nhất, sự biến động của giá xăng sẽ tác động dây chuyền đến giá vận tải, giá cả hàng hóa, ảnh hưởng đến sản xuất kinh tế và đời sống xã hội.
Bà xã nhìn Tám tui với ánh mắt cảm thông, gật đầu chia sẻ. Im lặng một hồi, bả rỉ rả:
- Nhưng mà, nói tiết kiệm là nói cho oai vậy thôi, chứ trước nay nhà mình có hoang phí bao giờ đâu mà tiết kiệm. Mình đâu có mua bán hay tiêu xài cho thứ gì không cần cho sinh hoạt thường ngày đâu. Mình đang giảm chi tiêu bằng cách “nhín” bớt nhu cầu đó ông ạ, ông thông cảm cho tui nha.
- Tôi biết rồi, bà khỏi giải thích! - Tám tui chấm dứt câu chuyện bằng giọng không vui, xong lại thấy vừa thương bà xã, vừa trách mình lực bất tòng tâm…
TÁM SÀI GÒN
Friday, August 31, 2012
Bí quyết giữ "tướng" giỏi của các công ty lớn
Theo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nhân sự, việc doanh nghiệp thuê CEO ngoại hay Việt Nam không quan trọng bằng việc sẽ trao quyền cho họ đến đâu.
Dùng người giỏi, cách nào?
Ngày 14/6/2012, Hội đồng quản trị Tập đoàn Vingroup ra quyết định bổ nhiệm bà Lê Thị Thu Thủy làm Tổng giám đốc thay cho Tổng giám đốc cũ - bà Mai Hương Nội.
Quyết định này được HĐQT Vingroup giải thích trong thông cáo báo chí gửi cho báo giới là "nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là chuẩn bị cho việc Vingroup sẽ IPO (niêm yết cổ phiếu lần đầu ra công chúng) và niêm yết cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Singapore trong thời gian tới".
Theo thông tin từ tập đoàn này, bà Lê Thị Thu Thủy là một chuyên gia tài chính có uy tín quốc tế. Trước khi gia nhập Vingroup năm 2008, bà là Phó Chủ tịch của Lehman Brothers tại Nhật Bản, Thái Lan, Singapore.
Vị trí đầu tiên của bà tại Vingroup là Trưởng ban Đầu tư, sau đó là Phó Chủ tịch phụ trách đầu tư. Ở các vị trí này, bà Thủy đã trực tiếp thực hiện thành công nhiều thương vụ quan trọng với đối tác nước ngoài cho công ty, như phát hành 100 triệu USD trái phiếu chuyển đổi quốc tế của Vincom năm 2009 và 185 triệu USD trái phiếu chuyển đổi quốc tế của Vingroup trong năm nay.
Nhưng chỉ thời gian mới có thể trả lời chính xác rằng, bà Lê Thị Thu Thủy - người từng nhiều năm "hít thở" trong bầu không khí quản trị hiện đại của một công ty đa quốc gia (Lehman Brothers) - sẽ "dễ thở" hay "khó thở" tại một tập đoàn tư nhân Việt Nam, nơi vai trò của Chủ tịch HĐQT Phạm Nhật Vượng là rất lớn.
Trong khi đó, nhiều người giỏi của Việt Nam lại có xu hướng đầu quân cho công ty ngoại, đa quốc gia.
Tập đoàn Royal Dutch Shell (Hà Lan) ngay từ khi trở lại thị trường Việt Nam năm 1988, sau khi Việt Nam ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, đã đi theo hướng sử dụng nhân sự địa phương (localization) triệt để.
Người Việt Nam có cơ hội nắm giữ chức chủ tịch, vị trí cao nhất của công ty tại Việt Nam, ví dụ như ông Nguyễn Huy Tám. Trong ban lãnh đạo công ty, người Việt chiếm tới 90%. Các vị trí quan trọng như: giám đốc kinh doanh ngành hàng, giám đốc nhà máy, giám đốc tài chính… đều do người Việt Nam đảm nhiệm. Hiện tại, 99% nhân viên làm việc tại Shell là người bản địa.
Theo quan điểm của Shell, tỷ lệ người địa phương trong công ty này không nhất thiết phải là 100%, bởi việc có người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng là cơ hội cho người bản địa được học hỏi và phát triển, giống như người Việt làm trong môi trường quốc tế. Tương tự là Công ty GE Việt Nam, với 100% các vị trí quản lý trung, cao cấp tại Hà Nội và TP.HCM có quốc tịch Việt Nam.
Chiến lược giữ chân nhân tài?
Ông Thanh Lê, Chủ tịch Công ty Shell Việt Nam chia sẻ, Shell cũng giống như các công ty đa quốc gia khác đều có chính sách về lương thưởng cạnh tranh, công việc, đào tạo nhân viên, môi trường làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp và làm việc ở nước ngoài…
Nhưng bên cạnh đó, Shell đặc biệt chú trọng đến vấn đề an toàn cho nhân viên thông qua các chương trình nâng cao nhận thức về an toàn lao động, bảo vệ nhân viên tránh khỏi những rủi ro pháp lý có thể xảy ra thông qua những nguyên tắc kinh doanh: yêu cầu nhân viên tuân thủ luật pháp và nghiêm cấm nhân viên có hành vi hối lộ hoặc tham nhũng.
Môi trường làm việc cho phép mọi nhân viên được tự do bày tỏ quan điểm, mọi ý kiến đều được tôn trọng, lắng nghe và sự tham gia của nhân viên với công ty được đề cao.
Một nghiên cứu tại châu Âu cho thấy, những nhân viên có mức độ tham gia cao và làm việc tốt ít rời bỏ công ty so với các nhân viên bình thường khác và có khả năng ở lại làm việc trong công ty cao hơn 9 lần so với các nhân viên có mức độ tham gia thấp.
Trên đây chỉ là một vài trong số rất nhiều trường hợp dẫn chứng cho luận điểm: Chất xám Việt Nam đang "chảy" trong "bộ não" của các công ty toàn cầu.
Trở lại chuyện dùng người của Shell, câu hỏi là yếu tố nào thuyết phục tập đoàn hóa dầu và năng lượng có 90.000 nhân viên tại hơn 80 nước và vùng lãnh thổ này đặt niềm tin vào dàn quản lý người Việt? Câu trả lời có lẽ chính là khả năng và các kết quả kinh doanh mà đội ngũ quản lý bản địa đóng góp, cộng với chính sách "localization" của Shell.
Còn theo bà Nguyễn Thị Vân Anh - Navigos Search - khi nói chuyện với khách hàng của mình, câu hỏi đầu tiên của bà luôn là: "Vì sao anh/chị muốn tuyển vị trí này? Mục đích là gì?". Câu trả lời chính xác của người chủ doanh nghiệp sẽ là chiếc chìa để mở ổ khóa "dùng người".
Theo kinh nghiệm tuyển dụng nhân sự cấp cao của bà, trước khi muốn tuyển CEO, các chủ doanh nghiệp cần biết mình muốn gì và muốn đưa doanh nghiệp đi đến đâu? Bước tiếp theo là ai sẽ giúp họ đạt được mong muốn đó?
Để giữ chân CEO, nhiều ý kiến đề cập đến vấn đề tiền bạc, vật chất. Nhưng bà Vân Anh lại cho rằng, đó không phải là yếu tố quan trọng nhất. "Nếu ứng viên CEO nào đặt vấn đề đó là quan trọng nhất thì có lẽ người đó chưa "đủ tầm".
Các công ty nước ngoài thường sử dụng chiến thuật "trao quyền", dành đất "dụng võ" để giúp CEO phát huy hết năng lực, tạo giá trị cho doanh nghiệp. Bởi lẽ, người lãnh đạo giỏi là người luôn muốn tạo ra giá trị, để lại dấu ấn cho doanh nghiệp và cho xã hội. Và người nào chứng tỏ được tầm của họ, người đó sẽ được tưởng thưởng xứng đáng, khi đó các yếu tố khác như lương, thưởng cũng tự tìm đến".
Đây có lẽ là điều khác biệt đối với không ít doanh nghiệp trong nước, khi nhiều chủ doanh nghiệp vẫn tin rằng đồng tiền có thể "trói chân" CEO làm thuê. Điều gì sẽ xảy ra đối với một nhà quản lý chuyên nghiệp được thuê về điều hành một công ty mà người chủ công ty không tin và trao quyền cho họ, thường xuyên can thiệp sâu vào điều hành với lý lẽ đã trả lương cao là đủ giữ người?
Trong khi đó, cả bà Vân Anh - Navigos Search và bà My Lan - Tổng Giám đốc GE tại Việt Nam, đều đồng tình rằng: "Thương hiệu cá nhân" của một nhà lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự cam kết lâu dài của đội ngũ nhân viên với doanh nghiệp đó (tiếng Anh có ngạn ngữ People follow people - người giỏi theo chân người giỏi).
Còn phương châm của bà My Lan là "không có ai hoàn hảo, nhưng sẽ có một đội ngũ hoàn hảo". Vì vậy, theo bà, nguyên tắc "People follow people" sẽ phát huy rất tích cực, nếu người lãnh đạo có thể hướng đội ngũ nhân viên của mình đi theo một mục tiêu chung và không lệch ra khỏi văn hóa công ty.
Bài học cho doanh nghiệp Việt Nam
Một bài học lớn từ chính sách quản trị nguồn nhân lực của các công ty đa quốc gia là họ đều xây dựng chiến lược nhân sự kế nhiệm một cách dài hạn, bài bản. Đây chính là điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam.
Bà My Lan cho biết, công ty bà có chiến lược và hệ thống tuyển dụng, bồi dưỡng, phát triển nhân lực cũng như đội ngũ lãnh đạo kế cận bài bản và rõ ràng. Chiến lược tuyển dụng của GE trước hết dựa trên chiến lược kinh doanh (ngắn hạn) và phát triển (dài hạn) của tập đoàn tại Việt Nam. Từ đó, công ty đưa ra những nhiệm vụ/trách nhiệm cũng như yêu cầu cụ thể cho từng vị trí trước khi tiến hành tuyển dụng.
GE đào tạo và phát triển năng lực của nhân viên ngay từ khi họ chưa có kinh nghiệm, nhằm chuẩn bị cho các kế hoạch phát triển tại thị trường Việt Nam. Công ty có các chương trình đào tạo quản lý như: Commercial Leadership Program (Đào tạo Quản lý Kinh doanh), Financial Management Program (Chương trình Quản lý Tài chính)…
Mỗi chương trình kéo dài trong 2 năm, luân chuyển 6 tháng/lần qua các bộ phận tại các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Mục đích của cách làm này là giúp nhân viên trẻ có môi trường "vừa học vừa làm" và phát triển cùng với công ty, từ đó gắn bó hơn với công ty.
Tập đoàn Royal Dutch Shell (công ty mẹ của Shell Việt Nam) cũng có chính sách nhân sự bao gồm 3 điểm cơ bản: Tôn trọng con người, bình đẳng; Đa dạng và Hòa nhập; Luân chuyển nhân viên (khuyến khích nhân viên thay đổi công việc trong nội bộ sau 3 - 4 năm nhằm phát triển các kỹ năng khác nhau, tạo môi trường/thử thách mới cho nhân viên để họ có thể ở lại lâu dài với công ty).
Sau sự kiện bổ nhiệm CEO mới, bà Lê Thị Thu Thủy, ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch Tập đoàn Vingroup nói về việc: "Sáp nhập Công ty Vinpearl vào Công ty Vincom và chính thức áp dụng mô hình tập đoàn, có thể nói Vingroup đã bước sang một giai đoạn phát triển mới. Việc có một tổng giám đốc có kinh nghiệm và uy tín trên thị trường quốc tế là rất cần thiết".
Vì sao Ngân hàng vẫn "tệ quá" cứ lách luật xé rào lãi suất ?
Hiện nay, với khoản tiết kiệm 1 tỷ đồng kỳ hạn trên 12 tháng, được ấn định lãi suất là 10,5%/năm, nếu khách hàng rút ra sau 3 tháng, ngân hàng vẫn thanh toán với lãi suất 10,5%/năm, đúng như cam kết ban đầu, thay vì áp dụng lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn theo quy định.
Tuy nhiên, để đối phó với các quy định của NHNN về trần lãi suất cũng như lãi suất áp dụng với việc rút tiền trước kỳ hạn, Ngân hàng sẽ giữ lại sổ tiết kiệm của khách hàng, đồng thời, làm một sổ vay cho khách hàng cũng có giá trị 1 tỷ đồng với lãi suất 10,5%/năm. Điều này có nghĩa, các tháng tiếp theo đó, khoản lãi vay của khách hàng sẽ triệt tiêu phần lãi vay của sổ tiết kiệm, cân đối các tài khoản của ngân hàng.
Hay tại một NHTM khác, lãi suất huy động dài hạn (trên 12 tháng) được tính bằng trần lãi suất 9%/năm theo quy định của NHNN cộng thêm 3%/năm. Nếu khách hàng rút tiền trước hạn (ít nhất sau 1 tháng) vẫn được hưởng lãi suất 12%/năm. Đó là chưa kể, Ngân hàng ưu tiên cho những khoản huy động có kỳ hạn từ 3 - 6 tháng là bởi khoản gửi tiết kiệm này sẽ trượt qua những tháng cuối năm, thời điểm mà các ngân hàng rất quan ngại về vấn đề căng thẳng thanh khoản. Theo đó, lãi suất các khoản huy động trong kỳ hạn này đối với món tiền trị giá 1 tỷ đồng trở lên được Ngân hàng cộng thêm 2%/năm bên cạnh trần lãi suất của NHNN quy định và khoản này được chi ngoài sổ sách; còn những món trị giá 2 tỷ đồng trở lên gửi với kỳ hạn 1 tháng sẽ được cộng thêm 1%/năm.
Thừa nhận cách thức áp dụng lãi suất cho khoản tiết kiệm rút tiền trước hạn trên là “lách” quy định của NHNN, nhưng một cán bộ tín dụng của một trong hai NHTM trên cho biết, họ dù không muốn vi phạm quy định nhưng vẫn phải làm để giữ chân khách hàng. Điều này cho thấy sức khỏe của những ngân hàng này có vấn đề hoặc cố tình làm vậy để duy trì mức lãi cho vay dài hạn cao những khoản vay cho vay cũ và mới dài hạn Vì vậy những vấn đề này cần được"xử lý" ngay bằng không những ngân hàng yếu kém hay tìm cách tự tái cấu trúc mình đi đừng làm ảnh hưởng đến cả hệ thống chính sách tài chính quốc gia. Và làm bất ổn quá lớn đến nền kinh tế gây bao khó khăn cho doanh nghiệp.
Xé rào cả lãi suất huy động USD
Hiện nay một số chi nhánh ngân hàng đang mời chào khách hàng gửi tiết kiệm USD với lãi suất 4%/năm. Lãi suất 2% sẽ được thể hiện trong sổ tiết kiệm, phần còn lại sẽ được trả ngay bằng tiền mặt. Nếu gửi từ 100.000 USD trở lên, lãi suất sẽ là 4,5%/năm. Theo tìm hiểu, tình trạng này đã có khoảng hai tuần nay.
Theo quy định, trần lãi suất huy động USD giới hạn ở 2%/năm. Theo giám đốc phụ trách tiền tệ và thị trường vốn của một ngân hàng nước ngoài, thanh khoản không phải là lý do khiến các ngân hàng này sẵn sàng trả lãi cao hơn so với quy định. Từ đầu năm đến nay, ngân hàng Nhà nước cũng đã mua vào được thêm 1 tỉ USD dự trữ ngoại hối, cho thấy ngân hàng thương mại không thiếu đôla Mỹ, mà bởi họ đang thu hút tiền gửi để đẩy tín dụng lên.
Trong toàn hệ thống ngân hàng, sáu tháng đầu năm tín dụng chỉ tăng 0,76%. Theo thống đốc ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, tăng trưởng tín dụng năm nay sẽ đạt 8 – 10%. Vì vậy, dù đánh giá của ngân hàng Nhà nước là thanh khoản ngân hàng đã ổn định, các ngân hàng vẫn cần tiền gửi dân cư ổn định để sẵn sàng cho việc tăng tín dụng sắp tới.
Các ngân hàng đã chọn phần gửi tiền bằng đôla Mỹ như một nguồn đảm bảo thanh khoản cho họ. Về nguyên tắc, ngoài tiền đồng, khi ngân hàng cần thêm đảm bảo thanh khoản trong lúc nguồn vốn từ vàng đã bị cấm huy động, họ đã tăng huy động USD với chi phí thấp hơn tiền đồng mà tính thanh khoản vẫn đảm bảo.
Do tính thanh khoản không bền vững
Các chuyên gia cho rằng, việc niêm yết công khai các mức lãi suất áp dụng đối với tiền gửi rút trước hạn, các mức phí phạt (nếu có) đối với tiền gửi rút trước hạn không thể hạn chế được tình trạng lách luật.Mà cần có ngay chính sách trần lãi suất huy động là 9% năm ngán hạn còn dài hạn là 11% năm tương tự cho vay không quá 12% năm ngắn hạn và dai hạn không quá 14% năm đối với các cấp độ đối tượng vay cao nhất không thể quá 14% năm kể cả nợ vay cũ cũng phải đưa về theo quyết định từ 15/7 này của NHNN.
Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng, tại thời điểm này, tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam được xem là ổn định, một phần vì NHNN điều chỉnh linh hoạt lượng tiền ra/vào lưu thông qua thị trường mở, một phần vì các ngân hàng có nhiều vốn huy động đang trong tình trạng “ứ vốn” do khả năng hấp thụ vốn thấp của nhiều DN.
Tuy nhiên, tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung không bền vững, trong khi vốn huy động chủ yếu ngắn hạn, các ngân hàng cho vay trung và dài hạn vượt xa mức 30% (trên tổng số nguồn vốn ngắn hạn) theo quy định của NHNN. Tình trạng “lấy ngắn nuôi dài” đã đẩy nhiều ngân hàng vào tình thế mất cân bằng về thanh khoản và buộc các ngân hàng này huy động lãi suất rất cao, ngay cả phải vượt trần lãi suất quy định của NHNN.
Bên cạnh đó, lãi suất tiền gửi đã được NHNN điều chỉnh liên tục trong những tháng đầu năm 2012 xuống 9%/năm cho những kỳ hạn duới 12 tháng như hiện nay. Điều này giúp các ngân hàng kéo lãi suất cho vay xuống một mức thấp hơn để hỗ trợ các DN, đặc biệt là các DN vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, việc hạ lãi suất trần cho tiền gửi đã làm tăng sự khó khăn cho các ngân hàng nhỏ và yếu thanh khoản dẫn đến tình trạng nhiều ngân hàng phải sử dụng những chương trình khuyến mại đặc biệt để thu hút tiền gửi từ dân chúng và làm tăng chi phí huy động vốn.
Nhưng tại sao các ngân hàng vẫn không thừa nhận tăng trưởng tín dụng những tháng qua là âm vì nguyên nhân lãi suất quá cao ? Có thể cho rằng một số nguyên nhân khác nhưng nguyên nhân chủ yếu và cốt lõi vẫn là từ lãi vay quá cao khi doanh nghiệp vay không có khả năng chi trả lãi mất dần vào vốn và dẫn đến "nợ xấu" Mạt khác các doanh nghiệp có thể vay thêm để ổn định sản xuất cũng không vay hoặc không vay được với lãi suất thấp vì có duy trì sản xuất kinh doanh mà vay với lãi cao thì lại lỗ hàng hóa giá thành cao không bán được dẫn đến tồn kho và ứ đọng thêm vốn lại chịu lãi mẹ lãi con rồi lại phá sản do vậy không vay để làm gì.
Như thế nguyên nhân 10/10 là do lãi vay quá cao dẫn đến "ế" hoặc tăng trưởng tín dụng âm là quá rõ ràng vậy mà các ngân hàng vẫn cho là không phải. Đừng vì một chút kiếm lời trước mặt mà tìm các thử tục "lách luật vượt rào " để duy trì lãi suất cao làm suy giảm sức sống và hoạt động của các DN sản xuất kinh doanh khác từ đó suy giảm toàn nền kinh tế. Hãy mau chóng kéo lãi suất về theo quy định của luật kinh doanh quốc tế chỉ cho phép dưới 10% năm. Lúc đó các DN dễ thở dần và kinh tế mới có thể phục hồi ổn định và phát triển .
Phương Mai TH



